Trang nhất » Nghiên cứu - Ấn phẩm » Cập nhật pháp lý

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÊN DOANH NGHIỆP VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÊN DOANH NGHIỆP VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÊN DOANH NGHIỆP VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý là một trong những thành tố góp phần vào sự phát triển và thành công của doanh nghiệp. Các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) này được coi là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường. Trong hoạt động kinh doanh, tên doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tượng SHCN, do vậy để phát huy hiệu quả các mối quan hệ đó cũng như tránh được những rủi ro, tranh chấp xảy ra, gây thiệt hại trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, cần phải có sự nghiên cứu về các mối quan hệ đó.
 
1.      Mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp với tên thương mại
Tên doanh nghiệp là tên đầy đủ được đăng ký khi thành lập doanh nghiệp, bao gồm hai thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN). Hiện nay, theo quy định Luật DN, doanh nghiệp được đăng ký ba tên: tên bằng tiếng Việt; tên bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt. Ngoài những tên gọi theo quy định của Luật DN (Luật DN), doanh nghiệp còn có một loại tên khác là tên thương mại theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT). 
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 76 và Điều 78 Luật SHTT, cụ thể như sau:
(i)     Tên thương mại phải chứa thành phần tên riêng, trừ đã được biết đến rộng rãi do sử dụng. Thành phần tên riêng có thể hiểu gồm: Phần mô tả và phần phân biệt. Phần mô tả là một tập hợp các từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh, không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại. Phần phân biệt để phân biệt chủ thể này với chủ thể khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.
Ví dụ: Công ty TNHH Thương mại Đầu tư và Du lịch Nhật Minh. Tên thương mại này đáp ứng tiêu chí chứa thành phần tên riêng “Nhật Minh” là thành phần phân biệt, còn loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH; thành phần mô tả: “Thương mại đầu tư và du lịch” không được bảo hộ.
(ii)   Tên thương mại không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh.
Tên thương mại là đối tượng SHCN được tự động xác lập chứ không thông qua việc đăng ký cấp văn bằng bảo hộ. Do đó, rất khó để xác định một tên thương mại nào đó đã có doanh nghiệp khác sử dụng trước đó hay chưa để xác định tên thương mại có trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại đã được bảo hộ trước đó trong cùng lĩnh vực kinh doanh hay khu vực kinh doanh. Chỉ khi có tranh chấp xảy ra thì chủ sở hữu tên thương mại mới đưa ra bằng chứng chứng minh việc sử dụng hợp pháp tên thương mại của mình trong phạm vi khu vực, địa bàn, lĩnh vực kinh doanh liên quan, lúc đó cơ quan có thẩm quyền mới xác định được tên thương mại có đáp ứng được điều kiện bảo hộ hay không. 
(iii)   Tên thương mại không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Tên thương mại được bảo hộ theo quy định của Luật SHTT có nhiều nét tương đồng với tên doanh nghiệp được bảo hộ theo Luật DN. Luật DN cũng yêu cầu tên doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, cũng như không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký. Đồng thời, Luật DN và Luật SHTT đều không cho phép dùng tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác để làm tên doanh nghiệp hay tên thương mại.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là tên thương mại có phải là tên doanh nghiệp không? Hiện chưa có một văn bản nào xác nhận hai vấn đề này. Theo quan điểm của tác giả, mặc dù tên doanh nghiệp và tên thương mại, dù có nhiều điểm tương đồng trong cách sử dụng, nhưng giữa chúng có một số điểm khác biệt:
Thứ nhất, về pháp luật điều chỉnh: Tên doanh nghiệp được Luật DN bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp lý của doanh nghiệp, còn tên thương mại được Luật SHTT bảo hộ với tư cách là đối tượng SHCN.
Thứ hai, về các yếu tố cấu thành:  Tên doanh nghiệp phải có 02 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, được ghi rõ trong GCNĐKDN. Tên thương mại không có quy định về các thành tố cấu thành, nhưng quy định phải chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp được biết đến rộng rãi do sử dụng.
Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền: Quyền đối với tên doanh nghiệp phát sinh khi doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN, trong khi đó quyền SHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp, mà không cần đăng ký với cơ quan nào. 
Thứ tư, về phạm vi bảo hộ:  Tên doanh nghiệp được bảo hộ trong phạm vi toàn quốc, còn tên thương mại chỉ được bảo hộ trong lĩnh vực và khu vực kinh doanh nhất định (phụ thuộc vào chứng cứ sử dụng do chủ thể quyền cung cấp).
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp có thể có nhiều tên thương mại  hay chỉ có một tên thương mại duy nhất? Vấn đề này cũng đang bị bỏ ngỏ. Như đã phân tích ở trên, Luật SHTT không cấm doanh nghiệp cùng lúc sử dụng từ hai tên thương mại trở lên. Theo hướng đó, doanh nghiệp có quyền sử dụng hơn một tên thương mại, miễn là doanh nghiệp chứng minh việc sử dụng hợp pháp tên thương mại của mình theo quy định của Luật SHTT.
Ở Việt Nam hiện nay, tên doanh nghiệp thường là tên thương mại. doanh nghiệp thường xuyên sử dụng tên tiếng Việt, tên tiếng nước ngoài hoặc tên viết tắt của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Ví dụ: Tổng Công ty Dược Việt Nam thường sử dụng tên tiếng Việt là Tổng Công ty Dược Việt Nam và tên viết tắt là VINAPHARM trong hoạt động kinh doanh lĩnh vực dược phẩm, ổn định, lâu dài, được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, đáp ứng các điều kiện bảo hộ là tên thương mại theo quy định của Luật SHTT. Do vậy, Tổng Công ty Dược Việt Nam có hai tên thương mại là Tổng Công ty Dược Việt Nam và VINAPHARM; hoặc Công ty CP Cửa sổ nhựa Châu Âu được thành lập ngày 29/8/2002, là nhà cung cấp các giải pháp tổng thể cửa hàng đầu tại Việt Nam. Công ty CP Cửa sổ nhựa Châu Âu sử dụng 02 tên thương mại trong hoạt động kinh doanh, đó là Công ty CP cửa sổ nhựa Châu Âu và EUROWINDOW.

2.      Mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp với nhãn hiệu
Trong nền kinh tế thị trường khá đa dạng như hiện nay thì người tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội để chọn lựa cho mình những sản phẩm phù hợp nhất và theo họ là tốt nhất. Điều đó cũng có nghĩa nhà sản xuất phải chấp nhận một cuộc cạnh tranh khắc nghiệt để xây dựng và bảo vệ thương hiệu của mình. Khi đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với cơ quan nhà nước thì đây chính là xác lập cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền sở hữu của doanh nghiệp với nhãn hiệu đó, đây là quyền độc quyền trong phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu được bảo hộ. 
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Tại Việt Nam, một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu nếu chúng đáp ứng các quy định về điều kiện bảo hộ được quy định tại Điều 72 Luật SHTT, theo đó, nhãn hiệu: (i) phải là các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (ii) các dấu hiệu này phải có khả năng phân biệt. Để cụ thể hóa điều khoản này, Điều 73 Luật SHTT có quy định chi tiết về các dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu và Điều 74 Luật SHTT quy định về các trường hợp theo đó nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt. Nếu nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì được coi là không có khả năng phân biệt. 
Tên doanh nghiệp là tên gọi của doanh nghiệp dùng để xưng danh trong hoạt động kinh doanh. Trong thực tiễn, có rất nhiều doanh nghiệp lấy thành phần tên riêng của doanh nghiệp đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu. Đây chính là xác lập cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền sở hữu của doanh nghiệp với nhãn hiệu đó, khẳng định quyền độc quyền đối với nhãn hiệu trong phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu được bảo hộ. Doanh nghiệp có toàn quyền khai thác, sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ và được pháp luật bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk, thì “Vinamilk” vừa là thành tố cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, vừa là nhãn hiệu được bảo hộ. Nhãn hiệu “Vinamilk” được đánh giá là nhãn hiệu dẫn đầu tại Việt Nam năm 2006.
Đối với các tập đoàn, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên toàn cầu, để khẳng định uy tín, vị thế của mình trên thương trường, các doanh nghiệp đều có chiến lược xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ của mình, thường thì thành phần tên riêng của doanh nghiệp trùng với nhãn hiệu đăng ký bảo hộ, ví dụ: Hyundai, Mishubishi, Honda, Yamaha, AEON, Intel, DKSH…
Theo quan điểm của tác giả, mặc dù tên doanh nghiệp và nhãn hiệu có mối tương quan với nhau, tuy nhiên giữa chúng có một số điểm khác biệt:
Thứ nhất, về pháp luật điều chỉnh: Tên doanh nghiệp được Luật DN bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp lý của doanh nghiệp, còn nhãn hiệu được Luật SHTT bảo hộ với tư cách là đối tượng SHCN.
Thứ hai, về các yếu tố cấu thành: Tên doanh nghiệp phải có 02 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, được ghi rõ trong GCNĐKDN. Tên riêng được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu. Trong khi đó, nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Như vậy, các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu rộng hơn các yếu tố cấu thành của tên doanh nghiệp vì không chỉ là dấu hiệu dưới dạng chữ cái mà còn có thể là dấu hiệu hình, màu sắc.
Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền: Quyền đối với tên doanh nghiệp phát sinh khi doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN, trong khi đó quyền SHCN đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp VBBH hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của Điều ước quốc tế; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. 
Thứ tư, về chức năng: Tên doanh nghiệp nhằm phân biệt chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác trong phạm vi toàn quốc. Trong khi, nhãn hiệu nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác đối với cùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Thứ năm, về phạm vi bảo hộ: Tên doanh nghiệp có phạm vi bảo hộ trong toàn quốc, được kinh doanh trong ngành nghề mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh còn nhãn hiệu có phạm vi bảo hộ trên toàn quốc, đối với nhóm sản phẩm, dịch vụ được cấp trong GCNĐKNH.

3.      Mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp với chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng, phát triển và sử dụng như một bằng chứng bảo đảm với người tiêu dùng về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, mà còn là công cụ hữu hiệu để quảng bá, nâng cao hình ảnh và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý. 
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ dẫn sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ đẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; (ii) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định. 
Phú Quốc là chỉ dẫn địa lý đầu tiên được Cục Sở hữu công nghiệp (nay là Cục SHTT) cấp Giấy chứng nhận tên gọi xuất xứ nước mắm (nay gọi là Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý) từ ngày 01/6/2001. Quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về UBND tỉnh Kiên Giang. Pháp luật nghiêm cấm bất kỳ ai sử dụng chỉ dẫn địa lý “Phú Quốc” đang được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Theo quan điểm của tác giả, mặc dù tên doanh nghiệp và chỉ dẫn địa lý cũng có mối tương quan với nhau, tuy nhiên giữa chúng có một số điểm khác biệt:
Thứ nhất, về pháp luật điều chỉnh: Tên doanh nghiệp được Luật DN bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp lý của doanh nghiệp, còn chỉ dẫn địa lý được Luật SHTT bảo hộ với tư cách là đối tượng SHCN.
Thứ hai, về các yếu tố cấu thành: Tên doanh nghiệp phải có 02 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, được ghi rõ trong GCNĐKDN. Khác với tên doanh nghiệp, chỉ dẫn địa lý là từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh, … chỉ rõ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.
Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền: Quyền đối với tên doanh nghiệp phát sinh khi doanh nghiệp được cấp GCNĐKDN, trong khi đó quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp VBBH.
Thứ tư, về phạm vi bảo hộ: Tên doanh nghiệp có phạm vi bảo hộ trong toàn quốc, được kinh doanh trong ngành nghề mà pháp luật không cấm. Chỉ dẫn địa lý có phạm vi bảo hộ trên toàn quốc, đối với nhóm sản phẩm, dịch vụ được cấp trong VBBH.
Thứ năm, mối quan hệ giữa hàng hóa và chỉ dẫn địa lý: Tên doanh nghiệp: được gắn lên bất kỳ sản phẩm, hàng hóa nào do doanh nghiệp sản xuất ở bất kỳ địa điểm kinh doanh nào của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ với hàng hóa, chỉ dẫn địa lý được gắn lên sản phẩm, hàng hóa mà một hoặc một số hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa đó được thực hiện ở một vùng địa lý đó.

Như vậy, tên doanh nghiệp và các đối tượng SHCN có nhiều mối liên hệ mật thiết với nhau. Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp và các đối tượng SHCN, doanh nghiệp có thể nhận diện được các rủi ro pháp lý có thể phát sinh. Song song đó, vận dụng mối quan hệ này, doanh nghiệp có thể tạo lợi thế về hình ảnh của doanh nghiệp, phát triển thương hiệu nhằm mang lại những lợi ích trong kinh doanh./.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website hoặc gọi tổng đài tư vấn 1900 6279 để được luật sư tư vấn trực tiếp, hoặc hẹn luật sư gọi 097 88 456 17.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Địa chỉ liên hệ

VĂN PHÒNG TẠI  TP HỒ CHÍ MINH

A-10-11 Centana Thủ Thiêm, số 36 Mai Chí Thọ, Phường An Phú, Tp.Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh
Tel/Fax: 028.38 991104 

Hotline: 0978845617- 0909160684
Email:  info@luatsuhcm.com

ĐẠI DIỆN TẠI HÀ NỘI

 Tầng 18, Tòa nhà N105, Ngõ 105 Đường Nguyễn Phong Sắc, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
 Cell: 0967388898 LS Chính

 Email: lschinh@luatsuhcm.com

 

thủ tục làm sổ đỏ thủ tục đăng ký vệ sinh an toàn thực phẩmthủ tục công bố chất lượng sản phẩm thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thủ tục thành lập văn phòng đại diện công ty nước ngoài tại việt nam thủ tục thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại việt nam

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 1890

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 53453

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7399765