Câu hỏi:
Em có một người bạn bị bắt giam vì tội mua đồ gian. Nhưng đã được phía bên kia gửi đơn bãi nại. nhưng do đồ ăn cắp được ở trong nhà trường ( liên quan đến nhà nước) nên vẫn phãi chờ ngày ra tòa. vậy khi ra toà bạn em sẽ bị xử như thế nào? có bị án treo hay ở tù không? và nếu ở tù thì bao nhiêu tháng? ( số tiền được công an điều tra ước tính là khoảng 28 triệu đồng). Em rất mong được sự giải đáp
Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Hành vi được coi là vi phạm Khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 khi "Không có sự hứa hẹn trước để mua tài sản và người mua biết hoặc có nghĩa vụ phải biết tài sản này do phạm tội mà có.
Vì câu hỏi của bạn không rõ, nên chúng tôi chỉ trả lời chung chung như vậy thôi, bạn tự xem xét bạn của bạn có hành vi như vậy hay không nha.
Đối với loại tội phạm vi phạm điều luật này thì việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can không phụ thuộc vào việc có đơn bãi nại của bị hại hay không, việc khởi tố là do cơ quan điều tra vì đây là tội phạm gây nguy hiểm cho xã hội nói chung.
Hình phạt đối với loại tội phạm này là bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Nếu bạn của bạn có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì có thể được xem xét cho hưởng án treo.
Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự 1999:
Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;
e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;
k) Phạm tội do lạc hậu;
l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
m) Người phạm tội là người già;
n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
o) Người phạm tội tự thú;
p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;
r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.
2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Để được tư vấn chi tiết hơn bạn vui lòng liên hệ tổng đài 19006279 để gặp luật sư tư vấn,
Trân trọng.
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội