Điều 139 và Điều 140 của Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì:
– Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho bạn tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
– Nếu việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm, sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất, không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ…thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trường hợp này thì giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy hành vi mà bạn của bạn thực hiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự.
Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể gửi đơn tố cáo kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan như đoạn ghi âm đến cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra hành vi để được giải quyết.
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội