Điều kiện được kết hôn ?
Câu hỏi:

Pháp luật quy định nam, nữ muốn kết hôn với nhau cần phải đáp ứng những điều kiện nào?

Trả lời:
Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn.
Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Cụ thể như sau :
- Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.
Những trường hợp nào bị cấm kết hôn ?
Câu hỏi:

Những trường hợp nào bị cấm kết hôn ?

Trả lời:
Luật Hôn nhân và gia đình quy định những trường hợp bị cấm kết hôn như sau:
- Người đang có vợ hoặc có chồng;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Giữa những người cùng giới tính.
Kết hôn trở lại sau khi đã ly hôn ?
Câu hỏi:

Anh An và Chị Bình kết hôn được 10 năm thì ly hôn theo quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án, nay anh chị muốn quay về với nhau thì có phải thực hiện đăng ký kết hôn nữa hay không?

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc đăng ký kết hôn như sau :
Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý.
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên, anh An và chị Bình đã ly hôn, nay muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.
Đăng ký kết hôn ở đâu ?
Câu hỏi:

Chị Hạnh có hộ khẩu thường trú tại xã A, anh Phúc có hộ khẩu thường trú tại xã B, hai người chuẩn bị làm đám cưới và muốn đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hỏi chị Hạnh và anh Phúc phải đến cơ quan nào để đăng ký kết hôn? Việc đăng ký kết hôn được thực hiện như thế nào?

Trả lời:
Theo Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn như sau:
- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn.
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài  là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.
Căn cứ vào quy định nêu trên thì chị Hạnh, anh Phúc đến tại UBND xã A hoặc xã B để đăng ký kết hôn.
 Theo Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình, việc đăng ký kết hôn được giải quyết như sau :
-  Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn;
-  Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Ủy quyền nhận giấy đăng ký kết hôn ?
Câu hỏi:

Sắp đến ngày nhận Giấy đăng ký kết hôn thì anh Hoài phải đi công tác xa, anh Hoài không biết pháp luật có quy định hai bên đăng ký kết hôn được ủy quyền cho người khác đến nhận thay Giấy đăng ký kết hôn hay không?

Trả lời:
Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
Theo quy định nêu trên, phải có mặt của hai bên nam, nữ kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền mới tổ chức đăng ký kết hôn, và trước khi nhận Giấy đăng ký kết hôn; hai bên nam, nữ kết hôn còn phải thực hiện yêu cầu cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn trước đại diện cơ quan đăng ký kết hôn.
Vì vậy, hai bên không được ủy quyền cho người khác đến nhận Giấy đăng ký kết hôn. 
Yêu cầu hủy việc kết hôn ?
Câu hỏi:

Chị Tâm bị cha mẹ ép gã cho anh Phong, mặc dù đã chung sống với nhau nhiều năm nhưng giữa họ vẫn không nảy sinh tình cảm. Chị Tâm không muốn kéo dài cuộc sống hôn nhân này và muốn được hiểu cụ thể hơn về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành ?

Trả lời:
Một trong các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Vì vậy, trường hợp kết hôn do cưỡng ép là vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, được coi là việc kết hôn trái pháp luật và phải bị hủy.
Quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:
- Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này (việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở)
- Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 về độ tuổi kết hôn và Điều 10 về các trường hợp bị cấm kết hôn;
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn tại khoản 1 Điều 9 và các trường hợp bị cấm kết hôn tại Điều 10 của Luật này:
+ Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;
+ Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
chia tài sản chung, con chung khi yêu cầu hủy hôn trái pháp luật ?
Câu hỏi:

Trong trường hợp Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì vợ, chồng có được thoả thuận việc chia tài sản, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hay không?

Trả lời:
Toà án có thẩm quyền quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định cụ thể tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình. Toà án gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để xoá đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình thì khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy, hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thí yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.
Yêu cầu khôi phục lại tình trạng hôn nhân ?
Câu hỏi:

Sau hai năm kể từ ngày anh Trung bị Tòa án tuyên bố là đã chết, vợ anh đã kết hôn với người khác. Nhưng nay anh Trung bất ngờ trở về và gửi đơn đến Tòa án yêu cầu hủy việc kết hôn của vợ mình với người khác. Hỏi quan hệ hôn nhân giữa anh Trung và người vợ có được khôi phục hay không ?

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục; trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.
Theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
Quân hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ các trường hợp sau đây:
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyết định cho ly hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật;
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
Đối chiếu các quy định trên, mặc dù anh Trung trở về, được Tòa án ra quyết định hủy quyết định tuyên bố là đã chết nhưng vợ anh Trung đã kết hôn với người khác, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh, chị không được khôi phục, quan hệ hôn nhân giữa vợ anh với người khác vẫn có hiệu lực pháp luật.
Trong phạm vi 3 đời được tính như thế nào ?
Câu hỏi:

Trong phạm vi 3 đời được hiểu như thế nào ?

Trả lời:
Đối với những người được coi là có họ trong phạm vi ba đời, khoản 3 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình quuy định là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba.
QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây