Đất trúng đấu giá có được chuyển nhượng?
Câu hỏi:

Ông A trúng đấu giá 100m2 quyền sử dụng đất ở tại phiên đấu giá do Uỷ ban nhân dân thị xã B tổ chức. Ông A đã chuyển nhượng lô đất đó cho ông X và trong hợp đồng có thoả thuận ông X phải có nghĩa vụ nộp đủ tiền sử dụng đất theo kết quả đấu giá. Xin hỏi việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A trong trường hợp nêu trên có đúng pháp luật hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo khoản 1 Điều 98 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định thì thời điểm người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng phải nộp tiền sử dụng đất được xác định như sau:
a- Trường hợp người sử dụng đất không được phép chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc không được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì chỉ được thực hiện các quyền của người sử dụng đất kể từ khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
b- Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc cho ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì được thực hiện các quyền của người sử dụng đất kể từ khi có quyết định đó;
c- Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật thì được thực hiện các quyền của người sử dụng đất kể từ khi có quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, ký hợp đồng thuê đất.
Như vậy, việc ông A chuyển nhượng 100m2 quyền sử dụng đất ở cho ông B trong khi ông chưa nộp tiền sử dụng đất theo kết quả đấu giá trong trường hợp nêu trên đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 98 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, mặc dù trong hợp đồng ông A có thoả thuận ông X nộp tiền sử dụng đất theo kết quả đấu giá. 
Điều kiện chuyển nhượng đất hộ gia đình?
Câu hỏi:

Doanh nghiệp tư nhân A muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của một số hộ gia đình và cá nhân tại xã X để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì phải có các điều kiện gì?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 100 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định về điều kiện đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì Doanh nghiệp tư nhân A muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của một số hộ gia đình và cá nhân tại xã X để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải có các điều kiện sau đây:
- Mục đích sử dụng diện tích đất nhận chuyển nhượng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
- Được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, xác định thời hạn sử dụng đất đồng thời với việc xét duyệt nhu cầu sử dụng đất theo những căn cứ quy định tại Điều 30 của Nghị định này;
- Phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Điều 36 của Luật Đất đai và quy định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
Điều kiện chuyển nhượng đất chung cư
Câu hỏi:

Công ty Z trúng thầu dự án sử dụng đất xây dựng khu chung cư tại thị xã B đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và cơ sở hạ tầng cho Công ty H để tiếp tục thực hiện dự án sau khi đã nộp đủ tiền sử dụng đất và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Vậy trong trường hợp nêu trên, Công ty Z có thực hiện đúng với quy định của pháp luật hiện hành không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006), đối với các thành phố, thị xã, các khu đô thị mới của các thành phố, thị xã hoặc các khu đô thị mới được quy hoạch phát triển thành thành phố, thị xã, chủ đầu tư được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế đối với diện tích đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng theo dự án được xét duyệt hoặc theo dự án thành phần của dự án đầu tư đã được xét duyệt; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải sử dụng đúng mục đích, đúng nội dung xây dựng và tiến độ ghi trong dự án đó.
Như vậy, khi Công ty Z sử dụng đất xây dựng khu chung cư tại thị xã B mà đã nộp đủ tiền sử dụng đất và hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo dự án được xét duyệt thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế khác. Do đó, việc chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và cơ sở hạ tầng cho Công ty H để tiếp tục thực hiện dự án của Công ty Z  được coi là đúng pháp luật.
Có đươck dồn điền, đổi thửa không?
Câu hỏi:

Ông A ở xã Q, ông B ở xã S có đất nông nghiệp giáp ranh nhau, nay muốn dồn điền đổi thửa cho thuận tiện việc canh tác thì họ có được quyền thực hiện việc chuyển đổi hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Tại khoản 2 Điều 113 Luật Đất đai và Điều 102 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất hoặc do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp theo chủ trương chung về ''dồn điền đổi thửa'' thì không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính.
Như vậy căn cứ vào quy định nêu trên, trong trường hợp ông A và ông B ở xã khác nhau thì họ sẽ không được quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nhau, mặc dù họ có đất nông nghiệp giáp ranh nhau và có nhu cầu dồn điền đổi thửa cho thuận tiện việc canh tác.
Công ty có quyền chuyển nhượng đất rừng không?
Câu hỏi:

Công ty A đã nhận chuyển nhượng 5 héc ta đất rừng để sản xuất của gia đình ông T. Có ý kiến cho rằng Công ty A không có quyền được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng để sản xuất. Vậy theo quy định của pháp luật ý kiến nêu trên có đúng quy định pháp luật hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, thì tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. 
Quy định nêu trên không cấm tổ chức kinh tế được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng để sản xuất. Cho nên, Công ty A cũng có quyền được nhận chuyển nhượng 5 hec ta đất rừng để sản xuất của hộ gia đình ông T. Như vậy, ý kiến cho rằng Công ty A không có quyền được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng để sản xuất là không đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Công chức có được sử dụng đất nông nghiệp không?
Câu hỏi:

Khi ông T chết có để lại thừa kế 1.000m2 đất trồng lúa do Nhà nước giao trong thời hạn 10 năm và cho anh B và chị C là người thừa kế theo pháp luật. Nhưng chị C cho rằng anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên không được quyền thừa kế 1.000m2 quyền sử dụng đất đó. Vậy ý kiến trên của chị C có đúng với quy định của pháp luật hiện hành hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Tại khoản 3 Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước.
Quy định trên chỉ không cho phép hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, mà không cấm quyền nhận thừa kế. Vì vậy, mặc dù anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp những vẫn có quyền nhận thừa kế đất trồng lúa cho ông T là bố anh để lại. Do đó ý kiến của chị C cho rằng anh B là công chức nhà nước, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên không được thừa kế quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật hiện hành.
Chuyển nhượng đất rừng đặc dụng ?
Câu hỏi:

Gia đình ông X sống tại phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng đã chuyển nhượng một phần đất ở cho ông B hiện cũng đang sinh sống ở khu vực đó, nhưng không được Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền chấp thuận. Trong trường hợp này, việc làm của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong trường hợp nêu trên có bị coi là vi phạm quy định về quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Tại khoản 4 Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó.
Như vậy, ông B sẽ không được quyền nhận quyền sử dụng đất tại phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng mặc dù ông B cũng đang sinh sống ở khu vực đó. Do vậy việc không chấp nhận việc chuyển quyền sử dụng đất ở giữa ông X và ông B của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong trường hợp nêu trên không bị coi là vi phạm quy định về quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất.
Có được chuyển nhượng đất trồng lúa không?
Câu hỏi:

Trước đây ông T đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trồng lúa đã được Nhà nước giao cho người khác. Nhưng sau đó gia đình ông T lại được Nhà nước giao 5.000m2 đất rừng để sản xuất. Vậy nay muốn chuyển đến nơi khác để làm ăn thì ông T có được tiếp tục quyền chuyển nhượng 5.000m2 đất rừng để sản xuất đó cho người khác hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Tại khoản 1 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất lần đầu đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất mà đã chuyển nhượng và không còn đất sản xuất, không còn đất ở, nếu được Nhà nước giao đất lần thứ hai đối với đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất, đất ở được miễn tiền sử dụng đất thì không được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai.
Đối chiếu với quy định nêu trên, hộ gia đình ông T sẽ được chuyển nhượng 5.000m2 đất rừng để sản xuất cho người khác nếu khi nhận đất rừng sản xuất hộ gia đình ông T có nộp tiền sử dụng đất. Trong trường hợp khi được giao đất, hộ gia đình ông T không nộp tiền sử dụng đất thì hộ gia đình ông T không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất lần thứ hai. Nếu không nộp tiền sử dụng đất và thời gian nhận đất đã đủ 10 năm trở lên thì gia đình ông T cũng có quyền chuyển nhượng 5.000m2 đó cho cho người khác.
Có được chuyển nhượng đất nuôi trồng thủy sản?
Câu hỏi:

Hộ gia đình ông A được giao 5 hecta đất nuôi trồng thuỷ sản trong phân khu bảo vệ phục vụ mục đích quốc phòng. Năm 2005 ông A đã quyết định chuyển nhượng 5 hec ta cho ông H hiện cũng đang sống tại đó, nhưng không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Vậy việc cơ quan có thẩm quyền không chấp nhận sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A cho ông H có đúng với quy định của pháp luật hiện hành hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, thì hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó.
Đối chiếu với quy định nêu trên, hộ gia đình ông được quyền chuyển nhượng 5 hec ta đất nuôi trồng thuỷ sản trong phân khu bảo vệ phục vụ mục đích quốc phòng khi người nhận chuyển nhượng là H hiện cũng đang sống tại đó. Do đó việc cơ quan có thẩm quyền không chấp nhận sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông cho ông H là không đúng với quy định của pháp luật hiện hành.
Chuyển nhượng đất rừng phòng hộ?
Câu hỏi:

Hộ gia đình ông X được giao 1 hec ta đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực rừng phòng hộ tại huyện Y tỉnh K. Do không có nhu cầu sử dụng nên gia đình ông đã quyết định chuyển nhượng cho anh T sống tại thành phố M. Vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa hộ gia đình ông X và anh T có được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Tại khoản 3 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó.
Đối chiếu với quy định nêu trên, khi được giao 1 hec ta đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực rừng phòng hộ tại huyện Y tỉnh K thì hộ gia đình ông X chỉ được quyền chuyển nhượng đất đó cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó. Trong trường hợp nêu trên, do không có nhu cầu sử dụng nên gia đình ông đã quyết định chuyển nhượng cho anh T hiện sống tại thành phố M thì việc chuyển nhượng đó sẽ không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Quyền của doanh nghiệp sử dụng đất xây dựng chung cư?
Câu hỏi:

Công ty A được giao 3 hecta đất để thực hiện dự án xây dựng nhà chung cư bán cho người có thu nhất thấp. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, Công ty A sẽ có các quyền gì khi sử dụng đất để xây dựng nhà chung cư đó?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 110 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Công ty A có các quyền sau đây đối với 3 hecta đất được giao để thực hiện dự án xây dựng nhà chung cư bán cho người có thu nhất thấp:
- Nếu Công ty A được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, do nhận chuyển quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền đã trả cho việc nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng kinh doanh nhà chung cư theo dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai; bán, tặng cho, cho thuê căn hộ của nhà chung cư; thế chấp, bảo lãnh bằng các căn hộ của nhà chung cư; giá trị quyền sử dụng đất xây dựng nhà chung cư không được tính vào giá căn hộ của nhà chung cư khi bán, cho thuê; quyền sử dụng đất không được sử dụng để thế chấp, bảo lãnh, góp vốn.
- Nếu Công ty A được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền đã trả cho việc nhận quyền sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai; quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật Đất đai; giá trị quyền sử dụng đất xây dựng nhà chung cư được tính vào giá căn hộ của nhà chung cư khi bán, cho thuê.
Quyền và nghĩa vụ đối với đất ở?
Câu hỏi:

Hộ gia đình ông H và cá nhân trong hộ gia đình đó cùng bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng 50 m2 đất ở tại thị xã X tỉnh Y xây dựng nhà để ở. Vậy pháp luật quy định trong trường hợp trên hộ gia đình ông H và cá nhân trong hộ gia đình đó có các quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Điểm a khoản 1 Điều 111 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định các thành viên của nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân mà quyền sử dụng đất là tài sản chung thì nhóm người sử dụng đất đó có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 113 của Luật Đất đai. Cụ thể, nhóm người sử dụng đất đó có quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai;
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ;
- Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;
- Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật;
- Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;
- Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật này; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này;
- Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;
- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh. 
Quyền đối với quyền sử dụng đất chung được xác định như thế nào?
Câu hỏi:

Quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất gồm nhiều thành viên là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà quyền sử dụng đất là tài sản chung được xác định như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Khoản 2 Điều 111 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế được quy định như sau:
a- Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm mà phân chia được theo phần thì từng thành viên của nhóm được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng;
b- Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm mà không chia được theo phần thì do người đại diện của nhóm thực hiện quyền và nghĩa vụ.
Từng thành viên của nhóm được uỷ nhiệm cho người đại diện của nhóm để thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản này theo quy định của pháp luật về dân sự;
c- Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm quy định tại điểm b khoản này, người đại diện phải có văn bản đồng ý của tất cả các thành viên của nhóm kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các thành viên của nhóm.
Các trường hợp đòi lại đất cho thuê, cho mượn ?
Câu hỏi:

Hộ gia đình, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc đòi lại đất đã cho mượn, cho thuê trong trường hợp nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 113 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, hộ gia đình, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc đòi lại đất đã cho mượn, cho thuê trong các trường hợp sau đây:
- Quyền sử dụng đất là tài sản của người cho mượn, cho thuê đất;
- Nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất là tài sản của người cho mượn, cho thuê nhà xưởng;
- Quyền sử dụng đất; nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất; nhà ở gắn liền với đất không thuộc danh sách các trường hợp đã thực hiện các chính sách cải tạo của Nhà nước về đất đai, nhà ở, nhà xưởng;  
- Việc giải quyết đối với quyền sử dụng đất, nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất được thực hiện như đối với nhà ở gắn liền với đất quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991.
Có được đòi lại đất cho mượn ?
Câu hỏi:

Ông A cho bà B mượn 100m2 đất để làm nhà ở. Sau 20 năm, bà B muốn trả lại đất cho ông A để chuyển sang tỉnh khác ở. Vậy trong trường hợp khi ông Acho bà B mượn không có hợp đồng và đất cho mượn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A có quyền nhận lại đất cho mượn hay không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Khoản 3 Điều 113 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác mà không có văn bản thoả thuận về việc mượn đất, thuê đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, nay tự nguyện trả lại đất đã mượn, đã thuê thì việc trả lại đất phải được Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định công nhận.   
Đối chiếu với quy định nêu trên, khi bà B muốn trả lại đất đã mượn 20 năm cho ông A mà khi mượn không có hợp đồng và đất cho mượn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A muốn nhận lại đất đã cho mượn thì phải được Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định công nhận.
Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất?
Câu hỏi:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, những người nào được coi là người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là những người sau đây:
- Người đứng đầu của tổ chức, tổ chức nước ngoài đối với việc sử dụng đất của tổ chức mình.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích; đất phi nông nghiệp đã giao cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở Uỷ ban nhân dân và các công trình công cộng phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương.
- Người đại diện cho cộng đồng dân cư đối với việc sử dụng đất đã giao cho cộng đồng dân cư.
- Người đứng đầu cơ sở tôn giáo đối với việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo.
- Chủ hộ gia đình đối với việc sử dụng đất của hộ gia đình.
- Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài đối với việc sử dụng đất của mình.
- Người đại diện cho những người sử dụng đất mà có quyền sử dụng chung thửa đất đối với việc sử dụng đất đó. 
Xử lý đất khi hợp tác xã giải thể như thế nào?
Câu hỏi:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi hợp tác xã bị giải thể hoặc phá sản thì quyền sử dụng đất sẽ được xử lý như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại Điều 109 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì khi hợp tác xã bị giải thể hoặc phá sản thì quyền sử dụng đất của hợp tác xã được xử lý như sau:
- Đối với đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất; được Nhà nước cho thuê; được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác mà tiền sử dụng đất, tiền mua tài sản, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì Nhà nước thu hồi đất đó;
- Đối với đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác mà tiền sử dụng đất, tiền mua tài sản, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; đất do xã viên góp quyền sử dụng vào hợp tác xã thì Nhà nước không thu hồi đất đó, quyền sử dụng đất là tài sản của hợp tác xã và được xử lý theo Điều lệ của hợp tác xã hoặc Nghị quyết của Đại hội xã viên.
Có được sử dụng lối đi chung ?
Câu hỏi:

Vui lòng cho tôi hỏi một việc như sau:
Tôi có mua một trong nhiều thửa đất được tách ra từ một thửa đất lớn. Khi tôi ký hợp đồng chuyển nhượng thì lối đi chung vẫn chưa có trên bản đồ địa chính, Vậy tôi có quyền được sử dụng hợp pháp lối đi chung đó không? Bên bán có quyền không cấp lối đi chung đó không?
Xin chân thành cảm ơn

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Nguyên tắc khi tách thửa một lô đất ở thành nhiều thửa phải có lối đi cho các thửa phía trong, do đó người bán phải dành một phần đất làm lối đi chung lúc này bạn mới có thể làm thủ tục tách thửa được.
Quy định pháp luật trong trường hợp này như sau:
Điều 275 BLDS quy định về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề như sau: Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng một cách thuận tiện và hợp lý nhất. Diện tích, kích thước lối đi do các bên thỏa thuận đảm bảo cho việc sử dụng lối đi thuận tiện cho tất cả các bên, nếu không thỏa thuận được thì cơ quan Nhà nước sẽ quyết định…
Việc sử dụng lối đi chung là thỏa thuận của bạn với những hộ cùng mua những thửa đất nhỏ trên, bạn phải làm rõ việc lô đất mà bạn sẽ mua có được chấp nhận sử dụng lối đi này hay không.  Bởi vì lối đi trên không có trong hồ sơ địa chính, nó chỉ là lối đi tự các bên thỏa thuận. Do vậy, bạn nên thỏa thuận với các cá nhân có liên quan lối đi chung này và thể hiện bằng văn bản để tránh rủi ro khi tranh chấp về sau. Nếu phía bên kia không đồng ý mà lối đi này là lối đi ra đường công cộng duy nhất thì bạn có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước quyết định.
Tìm sổ lâm bạ ở đâu ?
Câu hỏi:

Trước đây, GCNQSDĐ của gia đình em được cấp dưới dạng sổ lâm bạ (Đất sử dụng vào mục đích phủ xanh đất trống đồi trọc, cấp năm 1993, trước 15/3/1993). Tuy nhiên, hiện nay người đúng tên trên GCN đã mất và GCN chúng em chỉ còn bản photocopy có công chứng hồi đó. Vậy chúng em phải tìm lại sổ lâm bạ đó ở đâu?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Khoản 3 điều 14 Bộ luật Dân sự quy định một người được xác định đã chết thì mọi quan hệ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người đó đều chấm dứt.
 
 
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bạn đã bị mất Bạn phải đến UBND cấp xã, phường nơi có đất nộp đơn khai báo về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khai báo của mình.
Bạn có thể xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trình tự, thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) bị mất được quy định tại: “Nghị định 88/2007/NĐ-CP quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai”. Cụ thể bạn phải chuẩn bị 1 bộ hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau:

- Đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Giấy tờ chứng minh việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( VD: giấy xác nhận của cơ quan công an cấp xã nơi mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

- Giấy xác nhận của UBND cấp xã (nơi chứng nhận quyền sử dụng đất) về việc đã niêm yết công khai việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau đó bạn gửi hồ sơ này đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên môi trường hoặc UBND cấp xã nơi đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn để được giải quyết.

Về lệ phí xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo quy định tại Nghị đinh 24/2006/NĐ-CP thì bạn phải nộp 2 loại lệ phí là lệ phí địa chính và phí thẩm định cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hai mức phí này do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn quy định.
QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây