Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn?
Câu hỏi:

Cam kết góp vốn nhưng Chưa thực hiện lại đòi chia Tài sản sau khi đã Thỏa thuận Chia tài sản chung xong và đã có quyết định của Tòa án cách đây 3 năm?
Bạn tôi TĐT và cô ĐTT kết hôn tháng 04/1996 và tháng 08/2008 ly hôn theo quyết định ly hôn của Tòa án cách đây 3 năm, công nhận Thuận tình ly hôn và 2 người thỏa thuận tự phân chia tài sản chung không nhờ đến Tòa án và lập "Bản thỏa thuận chia tài sản ly hôn" khẳng định:
1 - Trong thời kỳ hôn nhân chúng tôi có tạo dựng được các Tài sản Chung như sau:
- Căn nhà thứ và quyền SDD thứ 1 tại ….. , Giấy CNQSHNO&QSDDO số, ngày... diện tích ….
- Căn nhà và quyền SDD thứ 2 tại ….., Giấy CNQSHNO&QSDDO số, ngày... diện tích….
2 - Nay vì bất đồng quan điểm phải ly hôn nên chúng tôi Thỏa thuận việc Chia tài sản Chung của Chúng tôi như sau:
- Bà ĐTT sẽ chuyển trả cho ông TĐT số tiền chênh lệch là ............. để được sở hữu căn nhà thứ 1 Giấy CNQSHNO&QSDDO số ………….
- Ông TDT được quyền sở hữu căn nhà và quyền SDD thứ 2 Giấy CNQSHNO&QSDDO số …. . mà không phải bù chênh lệch cho bà Đ.T.T.T đối với căn nhà này.
3 - Các tài sản còn lại không được thỏa thuận bằng văn bản hai bên đã tự phân chia.
4 - Cam kết:
- Khi có yêu cầu của người này về việc ký xác nhận vào các văn bản, giấy tờ có liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản được chia thì người kia cam kết sẽ thực hiện mà không có lý do từ chối hay đòi thêm chi phí.
- Hai bên cùng tự nguyện xác nhận việc chia tài sản nêu trên không nhằm mục đích trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào có liên quan đến tài sản được chia, đồng thời chịu hậu quả phát sinh (nếu có) liên quan đến thỏa thuận và cam kết này.
Hai bên đã ký xác nhận và việc trả tiền bù chênh lệch hoàn thành, 2 bên cũng đã ra phòng công chứng lập Hơp đồng tặng cho tài sản đúng theo cam kết.
Thêm nữa, toàn bộ tiền Tiết kiệm từ năm 2003 đến đầu năm 2008 gửi ở Ngân hàng do cô ĐTT đứng tên, bị rút hết nên Không đưa vào biên bản nên ông TĐT không được chia đồng nào, biên bản không nhắc đến xem như tài sản riêng đứng tên bà ĐTT được chia.
Tuy nhiên, vừa qua cô Đ.T.T bỗng dưng viết giấy gửi ông TĐT đòi chia thêm 1 phần tài sản có nguồn gốc như sau:
- Tháng 2/2003, trong thời gian vừa trả hết nợ căn nhà và đất thứ 1, do có nhu cầu nên ông TĐT đã bốc bưu (mượn tiền lương Cơ quan theo hình thức các cá nhân tham gia góp lương, ai bốc thăm trúng nhận trước, hàng tháng trừ lương 1 số tiền đã quy định) và vay thêm tiền để mua đất thứ 2, cả 2 căn nhà đều đúng tên 2 người và xem đó là tài sản chung dù tiền vốn và trả nợ do ông TĐT chịu trách nhiệm. Tại thời điểm đó có người bán đất khu vực khác giá rẻ nhưng không có tiền nên cả 2 thống nhất kêu gọi anh chị em trong nhà góp tiền mua 300m2 đất thổ cư. Bên nhà cô ĐTT không có ai góp vốn vì không có tiền. Bên nhà ông TĐT có 2 người đồng ý mua để cho con có đất ở khi học xong đi làm tại TP. Các bên thành lập Biên bản góp vốn trong đó ghi rõ: Ủy quyền cho một mình ông TĐT đứng tên sổ đỏ, Tiền mua đất là của 2 gia đình anh chị ông TĐT. Đồng thời ông TĐT và cô ĐTT cam kết SẼ phải góp tiền làm nhà ở trên đất với giá trị gần bằng nửa tiền mua đất, khi góp vốn phải có văn bản xác nhận của các bên để được chia theo tỷ lệ vốn góp nếu chuyển nhượng. Cô ĐTT cũng đã ký xác nhận vào Biên bản cam kết góp vôn này.
- Từ khi mua đất, có sổ đỏ đến năm 2008 khi chia tài sản, cả 2 thống nhất không đưa vào "Bản thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn" do chưa hề góp vốn và cô ĐTT kêu không có tiền, cả tiền tiết kiệm cũng không có đồng nào.
1 - Cô ĐTT thừa nhận chưa góp vốn nhưng cho rằng "ông TĐT đứng tên và mất công làm giúp giấy tờ nên phải chia tài sản và chia phần trong đó",
2 – Cách chia là: chia làm 3 phần (do có 2 gia đình anh chị góp tiền mua đất) các anh chị 2 phần, ông TĐT và cô ĐTT phải được 1 phần, phần này sẽ chia đôi cho cô ĐTT (tương đương 50m2 đất, và cô ĐTT không càn phải góp đồng vốn nào).
Ông TĐT không chấp nhận vì quá vô lý và bản thân ông TĐT cũng không được chia quyền lợi do chưa góp vốn, Cô ĐTT cho rằng "mất công, đứng tên giúp 2 gia đình họ phải được chia phần", ông TĐT không thể đòi tiền công như cô T nói. Do không góp vốn nên phải trả lại đất cho Các bên đã góp vốn cách đây 8 năm nên ông TĐT yêu cầu cô ĐTT xác nhận theo cam kết “Khi có yêu cầu của người này về việc ký xác nhận vào các văn bản, giấy tờ có liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản được chia thì người kia cam kết sẽ thực hiện mà không có lý do từ chối hay đòi thêm chi phí”
Nhưng cô ĐTT không chấp nhận và khẳng định "Tôi đòi chia tài sản là đúng, ông bỏ công trong thời kỳ hôn nhân giúp họ nên phải chia cho ông TĐT" và dọa sẽ gây hấn hoặc kiện ra tòa án.
1 – Dù là thỏa thuận Góp vốn bằng văn bản cam kết SẼ góp nhưng chưa góp và thừa nhận không có tiền nên đã không thể xây nhà trên đất đó.
2 - Trong Thỏa thuận chia tài sản đã ghi rõ ĐÃ CHIA XONG Tài sản chung nhưng nay lại cho rằng khi đó cả 2 chưa giải quyết xong.
Kính đề nghị Luật sư giúp đỡ:
1 – Thời hiệu khởi kiện có còn không, theo quy định nào ?
2 – Trường hợp trên có được khởi kiện hay không ? Ai sẽ là người khởi kiện ?
3 – Nếu khởi kiện Tòa án sẽ giải quyết theo quy định nào ? thanhcong1963@gmail.com

Trả lời:
 
Chào bạn! Văn phòng luật sư Nam Sài Gòn xin được trao đổi về trường hợp của bạn như sau:
Trong trường hợp bạn có tranh chấp phát sinh nhưng bạn không nêu rõ là ai khởi kiện ai nên để xác định thời hiệu khởi kiện cần xác định rõ hơn mối quan tranh chấp và thời điểm mà quyền và lợi ích của cá nhân bị vi phạm nên chúng tôi chỉ trả lời chung là:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”
Vấn đề thứ 2 là bạn hỏi ai có quyền khởi kiện, rõ ràng rằng quyền và lợi ích của công TĐT không bị xâm hại nên ông TĐT không phải khởi kiện, chỉ có cô ĐTT yêu cầu khởi kiện, tuy nhiên, cần xem xét:
Ông TĐT và Cô ĐTT đã ly hôn và có văn bản đã chia xong tài sản, nếu trong văn bản này có ghi bao gồm cả phần đất mà 2 người này tham gia góp vốn thì cô ĐTT không có quyền khởi kiện. Ngược lại, trong biên bản thỏa thuận không bao gồm tài sản này thì cô ĐTT có quyền khởi kiện, vì đây là tài sản chung được cấp trong thời kỳ hôn nhân.
Vấn đề còn lại là Cô ĐTT sẽ có nghĩa vụ chứng minh với tòa án phần đóng góp của cô và các yêu cầu của mình.
Ông A và B cũng có quyền khởi kiện để xác định khối tài sản chung. Có thể yêu cầu UBND xã phương hòa giải, nếu hòa giải không thành thì Ông A, B có quyền khởi kiện ra tòa án để xác định phàn tài sản của mình trong khối tài sản chung.
Theo thông tin bạn cung cấp thì chưa đủ để xác định được tòa án sẽ giải quyết như thế nào.
Hy vọng là được bạn cung cấp thông tin nhiều hơn để chúng tôi có cơ sở xem xét các yêu cầu.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con ?
Câu hỏi:

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được Luật Hôn nhân và gia đình quy định như thế nào?

Trả lời:
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, con được thực hiện theo quy định tại các Điều 34, 36, 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Cụ thể như sau :
Về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ:
-  Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi dục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con;
- Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con;
- Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện giáo dục con. 
Bồi thường thiệt hại đối với con gây ra ?
Câu hỏi:

Em Trần Văn Tiến 14 tuổi đang chạy xe đạp từ trường về nhà thì bị một nhóm bạn cùng trường đến gây gổ và làm hư chiếc xe đạp, phải sửa chữa hết 100.000 đồng. Cha mẹ Tiến đến gặp cha mẹ nhóm bạn trên yêu cầu phải bồi thường số tiền sửa xe. Trong trường hợp này, ai có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại?

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình quy định thì cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã mất năng lực hành vi dân sự gây ra. Cụ thể được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 606 Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau:
- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Xử lý hành vi ngược đãi bố mẹ
Câu hỏi:

Cháu năm nay 16 tuổi học lớp 11, bố cháu thường thích đi uống rượu với bạn bè, có những điều không vui trong công việc, điều không vui trong gia đình là ông ấy lấy nhiều lí do để chửi bới đánh đập cháu, so sánh cháu với các con vật: như chó, trâu, bò; đánh cháu bằng bất cứ thứ gì đánh sướng tay như dây điện, thanh gỗ treo rèm gậy gộc,... Bố cháu còn ép cháu phải làm mọi thứ theo ý của bố cháu chỉ đạo làm sai lệch đi là bị đánh đập và chửi rủa với ngược đãi và gây áp lực tâm lí kích động do bố cháu sử dụng vũ lực. Cháu bị đặt áp lực lên việc học, đem cháu ra so sánh với người khác để mắng mỏ. Cháu từng bị bố cháu lột sạch đồ và suýt đuổi ra ngoài đường, cháu từng bị trói và nhúng mặt xuống nước và dọa giết, đập phá đồ trong nhà khi say hoặc bực tức, về bố cháu thì hàng xóm ai cũng biết nhưng kệ, hiện giờ cháu muốn kiện bố cháu về việc này thì phải làm sao mong các chú bác cho cháu xin tư vấn với?

Trả lời:

Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con như sau:

"1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội."

Bố bạn có hành vi như đánh đập bạn, chửi mắng bạn, dọa giết bạn,... là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm về quyền và nghĩa vụ của cha và con.

Đối với hành vi của của bố bạn tùy từng mức độ, tính chất của hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại các Điều 49, Điều 50, Điều 51, Điều 52 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

* Về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình theo quy định tại Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

- Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

- Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình bị phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

+ Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

* Về hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình theo quy định tại Điều 50 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

- Hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình bị phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

+ Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

* Về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình theo quy định tại Điều 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

- Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

- Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

+ Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

+ Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

Về hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý theo quy định tại Điều 52 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

- Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó;

+ Không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc;

+ Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh.

- Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật.

- Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục;

+ Có hành vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.

Đối với hành vi đánh bạn, bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 nếu gây thương tích cho bạn trên 11% hoặc dưới 11% và thuộc một trong các trường hợp theo quy định từ điểm a) đến điểm k) Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

..."

Hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội hành hạ người khác theo quy định tại Điều 110 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 110. Tội hành hạ người khác 

1. Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật;

b) Đối với nhiều người."

 

Để xử lý hành vi này, bạn làm đơn tường trình gửi tới cơ quan công an cấp huyện nơi bố bạn đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

Thay đổi người nuôi con sau ly hôn như thế nào?
Câu hỏi:

Xin chào luật sư. Vợ chồng tôi ly hôn đã được 6 tháng. Sau khi ly hôn, tôi nuôi con chung Nguyễn Thảo Vy 2,5 tuổi, chồng tôi nuôi con chung Nguyễn Đức Khang 4 tuổi. Sau khi ly hôn bố cháu lấy lý do cháu bị ốm mỗi khi tôi đón cháu về ngoại chơi nên không cho tôi đón cháu. Hồi còn chung sống bố các cháu nhiều lần đánh tôi, hay đi đánh cờ bạc, không quan tâm tới vợ con. Tôi đã đưa đơn lên tòa đòi giành quyền nuôi con chung Nguyễn Đức Khang. Hiện tại tôi làm công nhân thu nhập trung bình 8 triệu/tháng. Trước đây tôi tốt nghiệp sư phạm 1 môn Văn đã từng đi dạy mầm non hơn một năm, dạy hợp đồng văn tại trường cấp 2 khoảng 3 năm. Bố các cháu làm công nhân gác cầu và làm thêm việc giao hàng thu nhập khoảng 6 triệu/tháng. Về đất đai, diện tích đất nhà đẻ tôi và nhà chồng cũ của tôi ngang nhau. Nhà đẻ tôi đất có sổ đỏ, còn nhà chồng cũ của tôi dù đất rộng nhưng không có sổ đỏ. Vậy trong điều kiện của tôi và chồng cũ của tôi như vậy liệu tôi có giành được quyền nuôi nốt con Khang không? Kính mong được sự tư vấn của luật sư. Tôi trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định thay đổi người trự tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

...

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Theo quy định trên, nếu bạn có căn cứ chứng minh chồng cũ của bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có quyền khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng cũ bạn đang sinh sống/làm việc để yêu cầu giải quyết. 

Điều kiện nuôi con của chồng bạn được xem xét dựa trên 02 điều kiện chính sau:

- Kinh tế: có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống cho con.

- Nhân thân: có nhân thân tốt, chưa từng phạm tội, không có hành vi vi phạm pháp luật

Ngoài ra, Tòa án còn xem xét dựa trên các điều kiện khác như: vấn đề nhà cửa, điều kiện chăm sóc con của chồng bạn,...

Theo đó, nếu bạn có căn cứ chứng minh chồng cũ của bạn không đảm bảo được các điều kiện trên thì bạn có quyền khởi kiện để giành quyền nuôi con với chồng cũ của bạn.

Nếu chồng cũ của bạn có hành vi ngăn cản việc thăm nom con của bạn thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau."

 

Để xử lý hành vi này, bạn có thể làm đơn tường trình tới cơ quan công an cấp xã nơi chồng cũ của bạn đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

 
Thủ tục đăng ký nhận cha cho con
Câu hỏi:

Kính chào các bác luật sư Em có một vấn đề không biết giải quyết như thế nào ? Kính mong văn phòng giúp đỡ. đây là một sự việc hoàn toàn là thật (tên nhân vật đã thay đổi) Sự việc như sau: Cô A đã đăng kí kết hôn và có thai với chồng là anh B. Tuy nhiên khi cô A mang thai thì anh B bỏ đi xa (không lo lắng, chu cấp tiền cho việc chăm lo con cái). Chị A sống một mình, sinh được đứa con gái và nuôi con cho đến khi con chị A được 5 tuổi. Lúc này chị A đi thêm bước nữa. Chị A lấy anh C có thai và sinh ra được một đứa con trai. Tuy nhiên, khi đi làm giấy khai sinh thì không làm được vì chị A và Anh B chưa ly hôn, nên chị A chỉ làm khai sinh cho đứa con trai với người đứng tên là tên chị A, còn tên cha thì để trống (đợi ngày chị li hôn rồi đăng kí kết hôn lại rồi ghi vào). Sau một thời gian dài chưa li hôn được với anh B. Chị A và Anh C lại mâu thuẫn dẫn đến bỏ nhau, Chị A giao con cho Anh C nuôi (Anh C đưa con về nhờ nội nuôi giúp). Đứa con của hai anh chị chuẩn bị đi học. Anh C xin chị A giấy khai sinh của đứa con và xin được toàn quyền nuôi đứa con, nhưng chị A không đồng ý và không giao giấy khai sinh đứa con cho anh C ( đến giờ đứa con này không có giấy khai sinh để đi học). Chị A quê ở Quảng Nam (khai sinh lần đầu cho đứa con trai cũng ở quê là Quảng Nam) Anh C quê ở Huế (có đi xin cấp giấy khai sinh nhưng không được chấp nhận) Em kính mong văn phòng luật sự có thể tư vấn cho em với để làm sao có thể nuôi con và khai sinh cho con một cách hợp pháp ạ Em cám ơn rất nhiều ạ. Xin chân thành cám ơn các luật sư?

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, chị A và anh C có sinh được một đứa con trai, nhưng vì chưa ly hôn với anh B nên chị A và anh C chưa đăng ký kết hôn dẫn đến khi khai sinh mới chỉ ghi thông tin của mẹ, phần thông tin về cha để trống. Hiện anh A và chị C không sống cùng nhau nữa, chị A giao con cho anh C nuôi. Nhưng chị A không giao giấy khai sinh cho anh C. Trong trường hợp này, anh C muốn có giấy khai sinh của con và nuôi con hợp pháp thì anh C phải thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con. Ở đây, do bạn không nói rõ chị A có đồng ý cho anh nhận bé hay không nên có thể xảy ra hai trường hợp:

Trường hợp 1, chị A đồng ý cho anh C nhận con thì bạn sẽ thực hiện thủ tục nhận cha cho con theo quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch 2014 như sau:

“1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc”.

Như vậy, theo quy định trên bạn cần chuẩn bị hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

Trường hợp 2, chị A không đồng ý cho anh C nhận con thì lúc này bạn có quyền làm đơn khởi kiện tới Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Khoản 4, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ."

Như vậy, bạn cần chuẩn bị hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

+ Đơn khởi kiện về việc xác nhận cha cho con (theo mẫu của Tòa án)

+ Giấy tờ xác nhận hai người là cha con (băng ghi hình người yêu bạn chơi với con, hình ảnh chung, xét nghiệm ADN,...)

+ Chứng minh thư nhân dân, Sổ hộ khẩu gia đình của bạn (bản sao chứng thực);

Sau khi thực hiện thủ tục nhận cha con hoặc trước đó bạn và cha bạn đã nhận cha con thì thực hiện thủ tục bổ sung hộ tịch: Cụ thể, theo Khoản 13 Điều 4 Luật Hộ tịch 2014 quy định:

13. Bổ sung hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cập nhật thông tin hộ tịch còn thiếu cho cá nhân đã được đăng ký.

Việc bổ sung hộ tịch được thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân đối với trường hợp người chưa 14 tuổi; công dân Việt Nam cư trú ở trong nước. Thủ tục bổ sung thông tin cha vào giấy khai sinh được thực hiện như sau:

+ Người yêu cầu nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch, cụ thể ở đây là bản án của Tòa án về việc nhận cha con. 

 

+ Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ, nếu thấy yêu cầu bổ sung hộ tịch là đúng, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng trong Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Trong trường hợp này, bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của bạn ( trước đó trống tên cha), Công chức tư pháp- hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung.

- Tờ khai đăng ký nhận cha cho con theo mẫu quy định. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

- Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được hướng dẫn bởi Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

+ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

+ Trường hợp không có văn bản như trên thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Bạn chuẩn bị giấy tờ và đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của vợ bạn hoặc nơi cư trú của bạn. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Bình đẳng giới là gì?
Câu hỏi:

Hỏi: Sắp tới, trường cháu có tổ chức một buổi sinh hoạt ngoại khóa về chủ đề bình đẳng giới. Đây là lần đầu tiên cháu được nghe về nội dung này nên cháu không hiểu “Giới”, “Bình đẳng giới”, “Định kiến giới”, “Phân biệt đối xử về giới” được hiểu như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy xin trả lời: 
Nội dung cháu hỏi, được quy định cụ thể tại Khoản 1, 2, 3 điều 5 Luật bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ X ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007  như sau:
1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (khác với từ Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ).
2. Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
3. Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.
4. Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây