Thanh toán và phân chia di sản thừa kế.

Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật?
Câu hỏi:

Tôi là một trong những người được thừa kế di sản là nhà đất của bố mẹ theo pháp luật. Tôi phải làm những thủ tục gì mới được hưởng phần di sản? Nếu chưa làm xong thủ tục mà phát sinh tranh chấp liên quan đến di sản thừa kế thì sẽ được giải quyết như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 678 Bộ luật dân sự(1) thì người để lại tài sản không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Nếu ông là con của người chết và cùng với các anh chị em khác thì căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(2) đều được xác định là người thừa kế thuộc “hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, của người chết”.
Để được hưởng phần thừa kế của mình những người thừa kế phải cùng nhau họp mặt lập biên bản để thoả thuận cách thức phân chia di sản sau khi có thông báo về việc mở thừa kế được quy định tại Điều 684 Bộ luật dân sự(3).
Điều 684 Bộ luật dân sự quy định:
“1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a. Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b. Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”.
Sau khi những người thừa kế trong gia đình thoả thuận được với nhau về cách thức phân chia di sản và thoả thuận đó được ghi nhận thành văn bản, ông phải làm thủ tục đăng ký thừa kế theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Luật đất đai năm 2003 “Người sử dụng đất có nghĩa vụ... đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi... thừa kế quyền sử dụng đất... theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003 thì người thừa kế phải gửi hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm Biên bản phân chia thừa kế và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nộp hồ sơ hợp lệ và thực hiện đủ các nghĩa vụ tài chính thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người thừa kế.
Điều 648 Bộ luật dân sự(4) quy định: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Trong trường hợp thủ tục đăng ký sang tên ông chưa hoàn tất mà có tranh chấp xảy ra thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Toà án.
Nếu thời điểm phát sinh tranh chấp xảy ra sau mười năm kể từ ngày mở thừa kế, việc giải quyết sẽ được thực hiện theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình. Cụ thể:
- Tranh chấp giữa những người thừa kế với nhau: Theo điểm a tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP nếu các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận là di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
- Tranh chấp giữa những người thừa kế với người thứ ba: điểm b tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP quy định trường hợp có tranh chấp giữa những người thừa kế với người thứ ba đang trực tiếp chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người thứ ba đó để đòi lại di sản.
----------------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
(4) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Biên bản phân chia di sản của các đồng thừa kế?
Câu hỏi:

Cha mẹ tôi mất năm 1998 có để lại một thửa đất (trên có nhà) không có di chúc. Nay anh em tôi thoả thuận với nhau về việc chia tài sản thừa kế bằng một biên bản của hội đồng gia tộc. Vậy văn bản này có phải đưa ra Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân thì mới có giá trị hay không và có được công nhận như một cơ sở để chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chúng tôi không? Tôi là một thừa kế ở Hưng Yên thì có được nhận phần thừa kế là đất tại Hà Nội không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Căn cứ dữ kiện ông nêu chúng tôi xác định trường hợp của ông thuộc quy định tại điểm a khoản 1 điều 678 Bộ luật dân sự năm 1995 (1) tức là trường hợp "thừa kế theo pháp luật" vì người chết không để lại di chúc.
Điểm a khoản 1 điều 678 Bộ luật dân sự năm 1995: "1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợ sau đây: a. Không có di chúc".
Căn cứ khoản 1 Điều 636 Bộ luật dân sự năm 1995(2) quy định về thời điểm mở thừa kế như sau: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết...”. Như vậy, vì bố mẹ ông mất năm 1998 nên thời điểm mở thừa là năm 1998. Điều 639 Bộ luật dân sự năm 1995(3) quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Vì bố mẹ ông mất không có di chúc nên việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(4) thì các anh em ông là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau. Hiện nay, các anh chị em ông không có tranh chấp gì và cùng nhau thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bố mẹ là phù hợp với quy định của pháp luật cụ thể:
Điều 684 Bộ luật dân sự(5) quy định về họp mặt những người thừa kế như sau: “Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế... những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a. Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b. Cách thức phân chia di sản”.
Khoản 2 Điều này quy định: “Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”. Vì bố mẹ ông mất năm 1998 và căn cứ điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995 (6) quy định về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nên trường hợp của gia đình ông thuộc quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình cụ thể: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995: "Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Như vậy, kể từ thời điểm các anh chị em ông lập biên bản thoả thuận phân chia di sản thì di sản thừa kế của bố mẹ trở thành tài sản chung của các anh chị em ông. Vì pháp luật chỉ quy định mọi thoả thuận của các đồng thừa kế phải lập thành văn bản không cần phải có chứng thực của cơ quan Công chứng nhà nước hoặc chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền nên bản thoả thuận của gia tộc ông có tất cả các chữ ký của các đồng sở hữu chung có giá trị.
Điều 634 Bộ luật dân sự năm 1995 (7) quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình... hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Điều 635 Bộ luật dân sự năm 1995(8) cũng quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Do dó, mặc dù ông là một thừa kế tuy ở Hưng Yên nhưng vẫn được hưởng thừa kế của bố mẹ tại Hà Nội.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất...”.
Do đó, biên bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế của hội đồng gia tộc ông cũng được coi là một trong các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất vì là "giấy tờ hợp pháp về thừa kế". Tính hợp pháp của giấy tờ này thể hiện: các đồng thừa kế thoả thuận về phân chia di sản thừa kế.
Căn cứ vào tài liệu này các ông có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
------------------------------------------------
(1) Khoản 1 điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005
(2) Khoản 1 điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005
(3) Điều 636 Bộ luật dân sự năm 2005.
(4) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
(6) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế"
(7) Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005.
(8) Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2005.
Cách phân chia di sản thừa kế?
Câu hỏi:

Bà ngoại tôi có hai người con gái là mẹ tôi và dì tôi. Bà tôi mất năm 1995, khi mất không để lại di chúc về mảnh đất mà mẹ tôi đang ở trên dó. Bà tôi cũng chẳng để lại giấy tờ gì về đất mà chỉ có tên trong sổ địa chính. Theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản là đất đai bà tôi để lại được phân chia như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Căn cứ dữ kiện ông nêu chúng tôi xác định quyền sử đất là di sản thừa kế của bà ông theo các quy định của pháp luật như sau:
Căn cứ  tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì việc xác định quyền sử dụng đất là di sản khi "người chết có 1 trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai năm 2003". Tuy bà ngoại của ông không có các giấy tờ về nguồn gốc đất nhưng có tên trong sổ địa chính nên thuộc trường hợp quy định điểm b khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003 do vậy quyền sử dụng đất của bà ông được xác định là di sản thừa kế và được để lại cho những người thừa kế.
Tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: "Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế".
Điểm b khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định: "1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: b. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có trên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính".
 Năm 1995 bà của ông mất không để lại di chúc nên di sản thừa kế của bà ngoại sẽ chia theo pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995(1) thì hai người con của bà ngoại (mẹ ông và người dì) thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau.
Điểm a khoản 1điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"
Căn cứ Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995(2) quy định thời hiệu yêu cầu chia thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Vì bà ngoại mất năm 1995 nên đến năm 2005 mới hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế. Như vậy, nếu những người con không thoả thuận được về cách chia thì có thể yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: "Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Căn cứ khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 1995(3) quy định về cách thức phân chia di sản như sau: “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia”.
Như vậy, mẹ ông và dì của ông có thể thoả thuận với nhau về việc chia diện tích đất. Trong trường hợp một người nhận đất thì người đó phải có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho người còn lại tương đương với giá trị của mảnh đất đó.
----------------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
(3) Khoản 2 điều 685 Bộ luật dân sự năm 2005.
Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại?
Câu hỏi:

Trước khi ba tôi mất đã làm di chúc cho tôi thừa hưởng nửa căn nhà (phần của ba) mà ba mẹ đứng tên ( còn mẹ tôi cho em gái tôi phần của mẹ). Sau khi ba tôi mất, có người mang giấy nợ có chữ ký của ba tôi đã thế chấp cho họ một nửa ngôi nhà thuộc phần sở hữu của ba nhưng không có công chứng. Hỏi: giấy nợ có thế chấp nhà do ba tôi lập có hợp pháp hay không? Tôi có trách nhiệm phải bán phần nhà được thừa kế của ba tôi để trả nợ cho ba hay không? Mẹ tôi có cùng chịu trách nhiệm trả nợ không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Giấy vay nợ của ba ông lập có hai nội dung: giao dịch vay nợ và giao dịch thế chấp (cụ thể là một nửa ngôi nhà).
* Để đánh giá tính hợp pháp của giao dịch thế chấp nhà (do bố ông thực hiện) cần căn cứ vào mặt hình thức và mặt nội dung của giao dịch này cụ thể như sau:
- Về hình thức:
Vì nhà đất là bất động sản phải có đăng ký nên theo Điều 347 Bộ luật dân sự(1) quy định về hình thức thế chấp tài sản là nhà đất:
“1. Thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản... và phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền...
2. Việc thế chấp phải được đăng ký, nếu bất động sản có đăng ký quyền sở hữu”.
Do đó, giao dịch thế chấp nhà bị vô hiệu về hình thức do không tuân thủ khoản  khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự năm 1995 cụ thể: “Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật”. Và theo quy định tại Điều 139 Bộ luật dân sự(3) thì việc xử lý giao dịch dân sự bị vô hiệu về hình thức như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu, nếu không được thể hiện bằng văn bản, không được Công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặc cho phép, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại”. Trong trường hợp này vì bố ông đã mất nên chỉ có người cho vay có quyền được yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch thế chấp nhà vô hiệu còn ông và mẹ ông không có quyền vì không phải là 1 bên trong giao dịch dân sự này.
- Về nội dung: Tại thời điểm thế chấp ngôi nhà do bố mẹ ông đứng tên vẫn là tài sản chung vợ chồng, giữa bố mẹ ông vẫn chưa có thoả thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”. Khoản 1 Điều 346 Bộ luật dân sự(4) quy định: “Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền”. Vì căn nhà là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và chưa phân chia cụ thể nên bố ông không có quyền định đoạt một mình. Mặt khác theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình... phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận”, nên bố ông không có quyền thế chấp tài sản chung vợ chồng mà không được sự đồng ý của mẹ ông.
Do đó, giao dịch thế chấp này cũng bị vô hiệu về mặt nội dung nên việc thế chấp một nửa ngôi nhà do bố ông thực hiện không có giá trị. Và mẹ ông với tư cách là người đồng sở hữu tài sản chung có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch thế chấp nhà của bố ông là vô hiệu.
* Trách nhiệm  của người còn sống đối với nghĩa vụ của người đã chết:
Tuy giao dịch thế chấp nhà không có hiệu lực nhưng giao dịch vay nợ của bố ông đối với chủ nợ thì vẫn có hiệu lực.
Căn cứ Điều 639 Bộ luật dân sự(5) quy định về chuyển giao nghĩa vụ từ người chết sang người thừa kế như sau: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Do vậy, ông là người thừa kế theo di chúc phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ này trong phạm vi di sản được thừa kế của bố ông. Có hai tình huống xảy ra:
+ Trường hợp bố vay nợ để chi tiêu chung cho gia đình: Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”. Việc vay nợ của bố ông nếu vì nhu cầu sinh hoạt chung của gia đình thì mẹ ông cũng có trách nhiệm trả nợ lấy từ khối tài sản chung vợ chồng (ngôi nhà đứng tên cha mẹ) theo quy định của khoản 2 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Sau khi trừ đi khoản nợ đó tài sản chung còn lại mới được chia đôi và phần tài sản thuộc sở hữu của bố sẽ được để lại cho người thừa kế là ông được chỉ định trong di chúc.
+ Trường hợp bố vay nợ để chi tiêu riêng: Căn cứ khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó” thì mẹ ông không có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ mà bố đã vay.
Vì bố ông để lại di chúc cho ông hưởng một nửa căn nhà phần của bố nên ông  phải trả nợ cho bố ông theo quy định tại khoản 1 Điều 640 Bộ luật dân sự(6) là: “Người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Trong trường hợp ông không có tiền trả nợ thì ông buộc phải bán nửa căn nhà là di sản thừa kế của bố ông để trả nợ.
Tuy nhiên, nếu khoản nợ lớn hơn phần di sản ông được hưởng thì ông chỉ có nghĩa vụ trả nợ tương ứng với phần di sản ông được hưởng theo quy định tại khoản 3 Điều 640 Bộ  luật dân sự năm 1995(7) cụ thể quy định như sau: “Trong trường hợp di sản đã được chia, thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận”.
-----------------------------------------------
(1) Điều 343 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký".
(2) Khoản 2 điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định".
(3) Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong 1 thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu".
(4) Khoản 1 điều 342 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thế chấp tài sản là việc 1 bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.
Trong trường hợp thế chấp 1 phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành trong tương lai".
(5) Điều 636 Bộ luật dân sự năm 2005.
(6) Khoản 1 điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác".
(7) Khoản 3 điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác".
Biên bản thoả thuận phân chia di sản của các đồng thừa kế?
Câu hỏi:

Bố mẹ tôi có ba người con (chị gái, tôi là con trai và em gái). Bố tôi mất năm 1982 còn mẹ tôi mất năm 1986, để lại một diện tích 1000m2 gồm cả đất và ao (trên đất có ngôi nhà cấp bốn) nguồn gốc do tổ tiên để lại. Bố mẹ tôi mất không có di chúc. Khi bố mẹ còn sống có tôi và cô em gái cùng sống trên mảnh đất đó (em gái tôi ở trên diện tích 140m2) còn chị gái tôi lấy chồng và ở nơi khác. Năm 1995 tôi san lấp ao được khoảng 500m2 (do tôi tự bỏ chi phí bằng giá trị 150m2 ao). Sau khi san lấp ao chị em tôi có họp gia đình và lập biên bản để chia di sản thừa kế của bố mẹ (nhưng không có chữ ký của tôi). Theo biên bản này thì cô em gái của tôi được thêm 57m2 (cùng với 140m2 đang ở) và cho chị gái tôi 100m2, còn lại là phần của tôi (vì tôi phải lo giỗ tết cho cha mẹ và tổ tiên hàng năm). Đầu năm 2004 em rể tôi (chồng của em gái tôi) rủ chị gái tôi đòi chia lại đất nhưng chị tôi không đồng ý. Hỏi: Em rể của tôi có quyền lợi gì đối với di sản thừa kế của bố mẹ chúng tôi không? Nếu một mình em gái tôi yêu cầu chia đất có được không? Tôi có phải chia lại đất không?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Vì bố mẹ ông mất không có di chúc nên việc chia thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế (tức là theo hàng thừa kế).
Căn cứ khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995(1) quy định về những hàng thừa kế theo pháp luật như sau:
"a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột".
Như vậy đối chiếu vào quy định trên thì 3 chị em ông thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ (điểm a) còn người em rể không thuộc hàng thừa kế nào nên không được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ ông.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 679 Bộ luật dân sự(2) thì “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.
Theo dữ kiện ông cung cấp hiện nay 3 chị em của ông đang quản lý sử dụng  1000m2 đất trên có ngôi nhà của bố mẹ để lại. Theo quy định tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định quyền sử dụng đất cũng là di sản nếu trên đất có tài sản là nhà gắn liền với quyền sử dụng đất. Di sản (là quyền sử dụng 1000m2 nói trên) do bố mẹ ông được để lại cho những người thừa kế sử dụng như sau: Ông sử dụng 700m2, em gái sử dụng 197m2, chị gái 100m2. Việc phân chia đất này là do ba chị em ông tự thoả thuận cách thức chia sau đó đã có lập văn bản. Tuy ông không ký vào Biên bản nhưng ông không phản đối gì và chị và em gái của ông cũng không có ý kiến gì như vậy là cả ba người đều thống nhất về việc định đoạt tài sản chung do bố mẹ để lại (là quyền sử dụng đất) theo phân chia như nêu trên.
Tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: " trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có 1 trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn liền với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất đó có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế thì phân biệt các trường hợp sau:
- Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.
-Trong trường hợp đương sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Trong trường hợp UBND cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó thì toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.
Theo quy định tại Điều 230 Bộ luật dân sự(3) về xác lập quyền sở hữu chung thì: “Quyền sở hữu chung được xác lập theo thoả thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán”. Như vậy, Biên bản chia đất giữa ba chị em ông lập vào năm 1995 được coi là sự thoả thuận định đoạt  tài sản chung là di sản thừa kế của bố mẹ để lại.
Vì bố mẹ của ông mất trước 1/7/1991 nên căn cứ các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì những người thừa kế không còn quyền yêu cầu vào ngày 10/3/2003. Tuy nhiên, trong trường hợp này, giả sử người em gái không công nhận giá trị của Biên bản chia đất năm 1995 mà muốn yêu cầu Toà án phân chia lại đất thì căn cứ quy định của điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế khi: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết...”. Vì năm 1995 ba chị em của ông có biên bản thoả thuận phân chia đất nên thuộc trường hợp quy định tại tiểu mục a.2 điểm a mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02 (2). Do đó toà án sẽ căn cứ vào biên bản này để chia tài sản chung.
Tiểu mục a.2 điểm a mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 quy định: "Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ".
---------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Khoản 2 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Điều 215 Bộ luật dân sự năm 2005.
Nghĩa vụ của người quản lý di sản theo thoả thuận?
Câu hỏi:

Cha mẹ chúng tôi mất đi có để lại cho các con tài sản là ngôi nhà. Chúng tôi thoả thuận để người em quản lý và đứng tên ngôi nhà. Nhưng người em đã thế chấp ngân hàng số tiền là 350 triệu đồng để sử dụng riêng. Hỏi: việc thế chấp nhà của cha mẹ để lại có phải có đủ chữ ký những người đồng thừa kế không? Vậy tôi phải làm đơn ở nơi nào cho phù hợp và điều nào của Bộ luật dân sự quy định cấm thế chấp nhà cửa không có chữ ký của những người đồng thừa kế?

Trả lời:
Trong trường hợp cha mẹ mất mà không có di chúc thì ngôi nhà là di sản thừa kế của bố mẹ để lại cho những người đồng thừa kế. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(1) thì ông và người em là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền tài sản ngang nhau đối với di sản (căn nhà) do cha mẹ để lại.
Hiện tại căn nhà đó chưa được chia và theo thoả thuận của hai anh em của ông thì ngôi nhà sẽ do người em quản lý và đứng tên. Căn cứ khoản 1 Điều 641 Bộ luật dân sự(2) quy định: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra”. Trong trường hợp này người em được xác định là người quản lý di sản chứ không phải chủ sở hữu ngôi nhà.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự(3) quy định nghĩa vụ của người quản lý di sản như sau: “Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản”. Như vậy, trong trường hợp người em tự ý đem ngôi nhà đi thế chấp là trái quy định của điều này và xâm phạm đến quyền lợi của ông.
Để bảo vệ quyền tài sản của mình bị xâm phạm, ông có thể kiện ra Toà án nhân dân yêu cầu huỷ giao dịch thế chấp đó nhưng ông phải chứng minh việc người em đứng tên ngôi nhà chỉ là theo thoả thuận của hai anh em. Ngoài ra ông có quyền yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu chia thừa kế chỉ được thực hiện trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm bố mẹ của ông mất theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự(4).
Điều 648 Bộ luật dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Nếu hai anh em của ông đều thống nhất ngôi nhà này là tài sản chung và chưa chia thì theo quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật dân sự(5) đây là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Khoản 1 Điều 232 Bộ luật dân sự quy định: “Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia”.
Nên việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung đó phải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều 237 Bộ luật dân sự(6): “Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung...”.
Do đó, trong trường hợp người em tự định đoạt ngôi nhà đó một mình cũng là trái với quy định này và ông cũng có quyền yêu cầu Toà án tuyên huỷ giao dịch thế chấp và đề nghị chia tài sản thuộc sở hữu chung này theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu ngôi nhà là tài sản chung của hai anh em thì cả hai anh em của ông sẽ cùng đứng tên sở hữu ngôi nhà với tư cách là những đồng sở hữu chung.
--------------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Khoản 1 điều 638 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Điểm b khoản 1 điều 639 Bộ luật dân sự năm 2005.
(4) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
(5) Khoản 1 điều 217 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia".
(6) Khoản 2 điều 223 Bộ luật dân sự năm 2005.
Chia di sản thừa kế như thế nào?
Câu hỏi:

Ông Nội mất ngày 11.2.1975 có để lại cho Bà Nội Tôi và 04 người con một căn nhà và đất (có giấy CNQSDĐ tạm thời cấp ngày 22/03/1993). ở Quận Gò Vấp
Năm 1993 Bà Tôi và 01 người con đi định cư ở mỹ nên có làm giấy tờ để lại cho Bố tôi:
- giấy cho và nhượng di sản đề ngày 04/05/1993 do phòng Công chứng nhà nước Tp.HCM chứng nhận
- Tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ (ngày 20/04/1993)
- đơn xin hợp thức hóa nhà ( ngày 26/03/1993)
- giấy hợp thức hóa nhà (ngày 08/4/1993)
- văn tự cho nhà (ngày 21/4/1993)
hiện nay Bà Nội Tôi đã mất năm 2009. Hai người con còn lại 01 ở Mỹ và 01 ở Tp.HCM đã ra công chứng lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
Hiện nay Bố Tôi phải làm những thủ tục và cần bổ sung những giấy tờ gì để được cấp giấy CNQSDĐ.
Mong sớm nhận được tư vấn sớm của Qúy Luật sư.
Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Do Ông nội bạn mất mà không để lại di chúc, sau đó bà nội bạn đã viết giấy cho lại tài sản cho bố bạn. Tuy nhiên nếu Bà nội để lại toàn bộ tài sản là không đúng, đây là tài sản chung của vợ chồng, Bà nội của bạn chỉ có quyền quyết định phần tài sản của mình (một nữa trong khối tài sản chung)
Nữa phần tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật nếu có yêu cầu:
Theo quy định tại Điều 676, BLDS về hàng thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Tuy nhiên, theo Điều 645 bộ luật dân sự, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Do vậy, di sản ông nội để lại đã hết thời hiệu chia thừa kế. Nay nếu các đồng thừa kế như đã nêu ở trên không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Nếu không thể tự thỏa thuận việc phân chia nhà thì các người cháu có thể khởi kiện để yêu cầu chia tài sản chung. Bố của bạn còn được hưởng thêm phần di sản chia theo pháp luật.
Sau khi lập thỏa thuận phân chia phần di sản thừa kế nêu trên hoặc có bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án, bạn liên hệ với UBND quận gò vấp để thực hiện thủ tục cấp GDNQSD đất.
Thừa kế tài sản như thế nào?
Câu hỏi:

Tôi tên là Tuyết, theo như hướng dẫn của chuyện mục về thủ tục để con thừa kế tài sản mà không có di chúc thì tôi đã hiểu như vấn đề của gia đình tôi hơi rắc rối, xin chuyên mục trả lời giúp:
mẹ tôi có 2 người con khi ở với Ba Diệm, nhưng không đứng ra làm khai sinh nên trong khai sinh không có tên ba. và Ba Diệm đã bỏ nhà đi làm ăn một khoảng thời gian dài.
Sau đó mẹ tôi gặp ba tôi và sinh ra tôi (có khai sinh) rồi tạo dựng được căn nhà hiện tại này, ba tôi mất năm 1968 từ đó Ba Diệm quay về ở lại với mẹ tôi đến khi Ba Diệm mất.
lúc đó ba tôi mua nhà không có giấy tờ giấy cả, sau này chính quyền kêu làm giấy chủ quyền đứng tên là Ba diệm (đã chết) và Mẹ tôi.
như vậy thủ tục gồm có Giấy khai sinh để chứng minh thuộc diện thừa kế của tôi có được hợp lệ không.

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự quy định về người thừa kế theo pháp luật.
Điều 676
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Và cũng theo quy định tại khoản 2 điều 5 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 có quy định:  Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy Khai sinh của người đó.
Do vậy trong trường hợp của bạn vừa nêu thì Giấy khai sinh được coi là một trong những giấy tờ quan trọng để chứng minh bạn thuộc hàng  thừa kế thứ nhất để được hưởng di sản thừa kế. 
Thủ tục nhận thừa kế theo di chúc?
Câu hỏi:

Tôi có hai người anh cùng cha nhưng khác mẹ. Các anh tôi đều đã có gia đình riêng, nhà cửa, công ăn việc làm ổn định và thu nhập cao. 5 năm trước, khi tôi còn ít tuổi bố tôi vì trọng bệnh qua đời đã để lại di chúc cho tôi hưởng thừa kế căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất của ông (di chúc có xác nhận của UBND xã). Nay tôi đã đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), tôi muốn làm các thủ tục để chính thức nhận thừa kế theo di chúc của bố. Đề nghị cho tôi biết trình tự, thủ tục để tôi thực hiện?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Để được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất, pháp Luật Đất đai (Điều 151, Nghị định số 181) quy định người nhận thừa kế phải thực hiện các thủ tục như sau:
1. Người nhận thừa kế nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:
a) Di chúc; biên bản phân chia thừa kế; bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; đơn đề nghị của người nhận thừa kế đối với trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có).
2. Việc đăng ký thừa kế được thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn không quá bốn (04) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp mới giấy chứng nhận;
b) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm thông báo cho bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
c) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
Thủ tục chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ?
Câu hỏi:

Tôi có một câu hỏi mong cafe luật giải đáp giúp. Vốn gia đình tôi có 5 anh chị em. Ba tôi hiện đứng tên trên quyền sử dụng đất của gia đình và trên quyền sử dụng đó ghi là HỘ. Theo tôi được biết thì nếu QSD là Hộ thì khi bán, tặng, cho đất thì tất cả các thành viên ( ở đây là ba mẹ tôi và 5 anh chị em tôi ) đều phải đồng lòng. Nhưng nói thế nào thì ba tôi cũng quả quyết rằng ông ấy đứng tên trên sổ đỏ là chỉ có ông ấy quyết định, muốn làm gì thì làm.
Vậy xin hỏi, bây giờ chúng tôi yêu cầu ba tôi phân chia khối tài sản là đất nằm trên quyền sử dụng đó thì phải làm thủ tục gì ở phòng công chứng? Trước khi công chứng thì cần chuẩn bị những loại giấy tờ gì? Ví dụ trong 1500m2 đất, anh em chúng tôi mỗi người được 200m2 thì có cần làm bản vẽ trước khi công chứng hay không? Hay chỉ thỏa thuận chia rồi đến phòng công chứng? Nếu theo pháp luật thì tỉ lệ chia đất giữa các con và phần ba mẹ như thế nào?

Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời:
Điều 43 khoản 3 mục b của Nghị định 181 ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai chỉ qui định: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình thì giấy chứng nhận chỉ ghi tên chủ hộ”.
Theo qui định tại các Điều 106, Điều 108 và Điều 109 BLDS năm 2005, “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập...; “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ 15 tuổi trở lên đồng ý”. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình. Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình và chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình"
Vì vậy nếu chỉ có 1 thành viên mang GCNQSDĐ cấp cho Hộ gia đình đi giao dịch mà không có giấy ủy quyền của các thành viên (từ 15 tuổi trở lên) còn lại trong Hộ thì giao dịch đó sẽ không thể thực hiện được toàn phần.
Việc chia tài sản chung của hộ gia đình do các thành viên trong gia đình thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có thể nhờ tòa án giải quyết. Vì vậy nếu các thành viên trong hộ gia đình thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản chung của hộ thì Hộ gia đình bạn có thể tới Phòng công chứng để lập Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây