- Bản án 17/2018/DS-PT ngày 23/01/2018 về “tranh chấp chia thừa kế tài sản” của TAND tỉnh Bắc Ninh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967; chị Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994; bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972 với bị đơn là ông Nguyễn Chiêu T, sinh năm 1952, ông Nguyễn Chiêu T1, sinh năm 1957.
- Vụ tranh chấp chia thừa kế tài sản giữa người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật liên quan đến phân chia di sản thừa kế theo di chúc theo tỷ lệ kết hợp với phân chia di sản thừa theo pháp luật theo hiện vật và giá trị. Cách giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện sự chưa linh hoạt trong áp dụng pháp luật về thừa kế, do đó chưa giải quyết được quyền lợi của một trong các nguyên đơn một cách thỏa đáng. Cách giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Chiêu Đ (sinh năm 1925) và bà Đặng Thị K (sinh năm 1929) có 07 người con gồm: Nguyễn Chiêu T, Nguyễn Chiêu T1, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Chiêu Dương (đã mất năm 1999, có 01 con là Nguyễn Ngọc A) và Nguyễn Thị M. Ông Đ qua đời ngày 11/9/2008, không để lại di chúc; bà K qua đời ngày 16/01/2013, có để lại di chúc hợp pháp (chứng thực ngày 23/12/2008) với nội dung để lại toàn bộ phần tài sản của mình cho bà M và chị A, mỗi người được hưởng 1/2 giá trị.
Di sản thừa kế của ông Đ và bà K bao gồm quyền sử dụng thửa đất 202m² đất ở, 522m² đất nông nghiệp và một số tài sản khác. Đối với thửa đất 202m² đất ở, các đương sự phát sinh tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết việc phân chia di sản.
Tại Bản án sơ thẩm số 08/2017/DSST ngày 28/6/2017, Tòa án xác định:
Phần di sản của ông Đ là 1/2 diện tích đất (101m²) được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà K và 07 người con (trong đó chị A được hưởng thừa kế thế vị phần của cha là ông Dương). Mỗi người được hưởng 12,62m².
Phần di sản của bà K bao gồm 1/2 diện tích đất (101m²) và phần 12,62m² được thừa kế từ ông Đ, tổng cộng 113,62m², được chia theo di chúc cho bà M và chị A, mỗi người 56,81m².
Như vậy, tổng phần được hưởng:
Bà M: 69,43m² (gồm phần theo di chúc và phần thừa kế theo pháp luật), trị giá 243.005.000 đồng.
Chị A: 69,43m² (gồm phần theo di chúc và thừa kế thế vị), trị giá tương đương.
Tòa án sơ thẩm chia thửa đất thành 03 phần và giao:
Bà M: 69,43m²
Chị A: 69,43m²
Ông T1: 63,14m² (có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch cho các đồng thừa kế khác)
Sau khi xét xử, nhiều đương sự đã kháng cáo. Nguyên đơn cho rằng phần đất giao cho bà M không thuận lợi do giáp miếu thờ, không có lối đi. Đồng thời, một số người con (bà L, bà T2, bà D) có thỏa thuận tặng lại phần thừa kế của mình cho bà M.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M đề nghị được nhận phần đất tương ứng với kỷ phần của ông T và ông T1, đồng thời hoàn trả giá trị bằng tiền cho hai ông này.
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:
Giữ nguyên phần diện tích 69,43m² giao cho chị A.
Giao cho bà M tổng diện tích 132,53m² (bao gồm phần được hưởng theo di chúc, theo pháp luật, phần được tặng cho và nhận chuyển đổi từ phần của ông T, ông T1), trị giá 463.855.000 đồng.
Ông T và ông T1 mỗi người nhận 44.170.000 đồng do bà M thanh toán.
Theo đó, thửa đất 202m² được chia thành 02 phần:
Thửa 1: 132,53m² giao cho bà M sử dụng
Thửa 2: 69,43m² giao cho chị A sử dụng
Vụ án là ví dụ điển hình về việc kết hợp áp dụng thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc và thừa kế thế vị, đồng thời cho thấy vai trò của thỏa thuận giữa các đồng thừa kế trong quá trình giải quyết tranh chấp.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp thừa kế là nhà đất
- Di chúc của bà K là hợp pháp và có hiệu lực, theo đó bà M và chị A mỗi người được hưởng 1/2 giá trị di sản. Đây là trường hợp người để lại di sản đã phân định tài sản theo tỷ lệ, tức mỗi người thừa kế được hưởng một phần di sản tương ứng với tỷ lệ xác định trên tổng giá trị khối di sản.
- Bài viết sẽ tập trung phân tích phần tranh chấp liên quan đến thửa đất 202,0m² đất ở thuộc di sản thừa kế của ông Đ và bà K, cũng như cách thức Tòa án phân chia di sản.
Để xác định chính xác phần di sản mỗi người được hưởng, việc định giá tài sản là bắt buộc.
Trong vụ án:
Thửa đất 202,0m² được định giá: 706.860.000 đồng
Đây là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
Khi ông Đ chết trước, phần di sản của ông được xác định là:
1/2 giá trị tài sản = 101m²
Trị giá: 354.430.000 đồng
Nguyên tắc áp dụng:
Chia theo pháp luật: áp dụng đối với phần di sản của ông Đ
Chia theo di chúc: áp dụng đối với phần di sản của bà K
Việc chia di sản phải dựa trên giá trị thực tế tại thời điểm phân chia, không chỉ dựa trên diện tích
Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho bà M sử dụng thửa đất diện tích 69,43m², về nguyên tắc là đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, tồn tại một bất cập quan trọng:
Thửa đất này giáp miếu thờ của làng
Không có lối đi hợp lý, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng thực tế
Điều này cho thấy:
Cách chia di sản chưa linh hoạt
Chưa đảm bảo đầy đủ quyền lợi thực tế của người thừa kế
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp uy tín
Tại cấp phúc thẩm, nhiều tình tiết mới đã được xem xét:
Bà M đề nghị nhận thêm phần đất của ông T và ông T1
Cam kết thanh toán giá trị tương ứng bằng tiền
Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định:
Giao cho bà M: 132,53m² (463.855.000 đồng)
Giao cho chị A: 69,43m²
Đồng thời, ông T và ông T1 nhận giá trị bằng tiền thay vì nhận đất
Cách giải quyết này được đánh giá là phù hợp pháp luật và thực tiễn, bởi:
✅ Đảm bảo quyền mở lối đi hợp pháp cho thửa đất của bà M
✅ Tôn trọng ý chí thỏa thuận của các đồng thừa kế
✅ Phù hợp quy định về diện tích tối thiểu tách thửa
✅ Kết hợp linh hoạt giữa:
Chia bằng hiện vật
- So với bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm đã đưa ra cách giải quyết toàn diện và hợp lý hơn, vừa đảm bảo:
Đúng quy định pháp luật về thừa kế
Phù hợp điều kiện thực tế của tài sản
Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên
Đây là một điển hình cho việc áp dụng linh hoạt pháp luật thừa kế trong thực tiễn xét xử, đặc biệt trong các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất.
- Vụ án là minh chứng rõ ràng cho việc giải quyết tranh chấp thừa kế không chỉ cần đúng quy định pháp luật, mà còn phải phù hợp thực tế sử dụng tài sản.
So với cấp sơ thẩm, bản án phúc thẩm đã thể hiện sự linh hoạt và hợp lý hơn, khi:
Tôn trọng thỏa thuận giữa các bên
Đảm bảo điều kiện sử dụng đất
Kết hợp hiệu quả giữa chia hiện vật và chia bằng tiền
👉 Đây là hướng giải quyết đáng tham khảo trong các vụ tranh chấp thừa kế đất đai hiện nay.
Chúng tôi trên mạng xã hội