Không áp dụng thời hiệu về quyền thừa kế đối với việc chia tài sản thuộc sở hữu chung có nguồn gốc thừa kế

Câu hỏi:

Trong cải cách ruộng đất năm 1956, mẹ tôi và bốn anh em tôi được chia một căn nhà tranh trên mảnh đất 250m2 ở Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội. Lúc đó bố tôi đi cải tạo. Tại ngôi nhà này chỉ có năm mẹ con tôi và chị dâu tôi (đã có một con) sống. Năm 1958 anh tôi đi thoát ly làm công nhân xây dựng. Năm 1967 tôi đi thanh niên xung phong. Hai em tôi cũng lần lượt đi thoát ly. Năm 1964 bố tôi được trả tự do và mất năm 1970. Năm 1986 mẹ tôi cũng qua đời chỉ còn chị dâu sống tại nhà đất này. Sau đó chị dâu tôi ra ở với anh tôi ở Hà Nội nhưng hộ khẩu vẫn ở quê. Bố mẹ tôi mất đi không để lại di chúc về tài sản này. Hiện nay cả bốn anh em tôi đều có nhà ở riêng tại Hà Nội. Diện tích nhà đất này hiện vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) nhưng nếu cấp thì chắc sẽ cấp cho chị dâu của tôi. Nay tôi và em gái tôi muốn chia thừa kế tài sản này có được không? Nguyễn Huy Tự Ngõ 292, đường Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội

Trả lời:

Căn cứ vào dữ kiện ông cung cấp chúng tôi xác định căn nhà tranh trên diện tích 250m2 đất ở quê là tài sản của mẹ ông. Tuy mẹ ông được chia đất trong thời kỳ bố ông đã bị đi cải tạo. Nhưng theo quy định của Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì tài sản này vẫn được xác định là tài sản chung vợ chồng.
Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.  
Năm 1972 bố ông mất và năm 1986 mẹ ông mất không để lại di chúc và chỉ có chị dâu ông ở tại nhà đất này. Theo quy định tại Điều 684 Bộ luật dân sự(1) quy định về họp mặt những người thừa kế thì “Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a. Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b. Cách thức phân chia di sản”.
Tuy nhiên sau khi mẹ ông mất giữa các anh chị em ông không hề có sự họp mặt để thoả thuận về các vấn đề nêu trên. Vì vậy, tài sản này vẫn là di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại và do chị dâu quản lý sử dụng. Theo quy định của pháp luật thì người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có các điều kiện sau: Có một trong các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, phải là người đang sử dụng đất và phải được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
Khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a. Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d. Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993;
đ. Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật”.
Vì chị dâu của ông không có bất cứ giấy tờ nào về quyền sử dụng đất, không còn ở tại đó và khi ông và em gái có yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích nhà đất đó thì sẽ không có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nhà đất nêu trên.
 Theo quy định tại khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(2) thì người chị dâu không thuộc hàng thừa kế nào mà chỉ có anh chị em ông là những đồng thừa kế.
Khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột”. 
Theo dữ kiện ông nêu thì hiện nay ông và một người em gái muốn chia thừa kế diện tích nhà đất này. Nếu giữa những người đồng thừa kế không tự thoả thuận được thì ông có quyền yêu cầu Toà án chia thừa kế nếu còn thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.
Căn cứ điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định:
“Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế năm 1990
và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế...”.
Khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 quy định: “Trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác”.
Vì bố mẹ của ông mất năm 1970 và năm 1986 nên ông và em gái của ông không còn quyền yêu cầu Toà án chia thừa kế nữa.
Tuy nhiên căn cứ dữ kiện ông nêu thì hiện nay nhà đất này không có ai quản lý và những đồng thừa kế cũng không có tranh chấp gì về hàng thừa kế và đều xác nhận đó là di sản thừa kế do bố mẹ để lại nên khối tài sản này được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung của bốn anh em ông - là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ ông. Và các anh em ông cần thoả thuận với nhau để thống nhất cách thức chia tài sản. Nếu không thoả thuận được thì có thể yêu cầu Toà án giải quyết. Căn cứ điểm a.3 tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 quy định: “Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.
------------------------------------------------------
(1) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây