Thủ tục sang tên đất thừa kế

Câu hỏi:

Gia đình tôi hiện nay đang ở tại ngôi nhà xây dựng trên mảnh đất của cơ quan cấp cho mẹ tôi, và có các giấy tờ sau : Bản sao quyết định của Cơ quan có thẩm quyền cấp đất cho cơ quan mẹ tôi; Bản gốc giấy phân đất do cơ quan cấp mang tên mẹ tôi, Giấy phép xây dựng do mẹ tôi đứng tên xin phép, Sơ đồ vị trí đất... Đầu năm 2002 mẹ tôi mất và không để lại di chúc, nên gia đình tôi muốn chuyển quyền sử dụng đất sang tên tôi. Tuy nhiên, khi đến Sở Địa chính Hà Nội để đăng ký làm thủ tục cấp sổ đỏ và chuyển tên sang cho tôi bằng dịch vụ hành chính công thì nhân viên tại đây có nói là về giấy tờ liên quan đến đất thì đã đầy đủ, nhưng phải có giấy khước từ thừa kế (gồm bố tôi và chị tôi). Hỏi: tôi muốn sang tên diện tích nhà đất trên thì phải làm thủ tục gì? Có phải nộp thuế sang tên tôi không?

Trả lời:

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng”.
Như vậy căn nhà xây trên diện tích đất mà mẹ ông được cơ quan cấp là tài sản chung vợ chồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi”. Năm 2002, mẹ ông mất nên một nửa khối tài sản chung là của bố ông, còn một nửa là di sản thừa kế chưa chia của mẹ.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 678 Bộ luật dân sự(1) quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật là “không có di chúc”. Vì mẹ mất đi không để lại di chúc nên một nửa khối tài sản của mẹ sẽ được chia theo pháp luật.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(2) quy định những người thừa kế theo pháp luật thì bố ông và hai chị em ông là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau.
Điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. 
Căn cứ dữ kiện ông nêu thì những đồng thừa kế thống nhất không chia thừa kế mà cả bố ông và chị gái ông đều đồng ý để cho ông được đứng tên diện tích nhà đất này.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 684 Bộ luật dân sự(3) thì “mọi thoả thuận của những người thừa kế” về “cách thức phân chia di sản thừa kế” phải được lập thành biên bản.
Điểm b khoản 1 Điều 684 Bộ luật dân sự quy định: “Cách thức phân chia di sản”.
Khoản 2 Điều 684 Bộ luật dân sự quy định: “Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”. 
Do đó cần phải có biên bản của bố con ông về việc đồng ý để ông đứng tên nhà đất.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định về các loại giấy tờ hợp lệ về đất ở thì Biên bản này là “giấy tờ hợp pháp về thừa kế” để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông.
Điểm c khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất”. 
Do đó, bố ông và chị ông không cần làm thủ tục khước từ thừa kế phần tài sản mà họ được hưởng.
Theo khoản 5 Điều 3 Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 8/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định những trường hợp không thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất thì: “chuyển quyền sử dụng đất giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau”. Do vậy, ông không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (4%) vì được thừa kế từ mẹ.
Theo quy định tại điểm 1 mục I Thông tư số 28/2000/TT-BTC ngày 18/4/2000 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ thì đất là tài sản phải chịu lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, ông phải nộp lệ phí trước bạ sang tên ông (tức lệ phí đăng ký quyền sở hữu) bằng 1% trị giá tài sản tại thời điểm nộp.
-------------------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây