Căn cứ theo quy định tại Điều 190 Luật Đất đai 2024, như sau:
Điều 190. Hoạt động lấn biển
1. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ thực hiện các hoạt động lấn biển; có chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho nhà đầu tư thực hiện hoạt động lấn biển theo quy định của pháp luật.
2. Hoạt động lấn biển phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia trên biển; phù hợp với quy định của luật khác có liên quan và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Dựa trên cơ sở đánh giá đầy đủ về kinh tế, xã hội, môi trường, bảo đảm phát triển bền vững, đa dạng sinh học, các yếu tố tự nhiên, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng;
c) Phù hợp với quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch đô thị;
d) Khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển; bảo đảm hài hòa lợi ích của tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động lấn biển và tổ chức, cá nhân khác có liên quan; bảo đảm quyền tiếp cận với biển của người dân, cộng đồng;
đ) Hoạt động lấn biển phải được lập thành dự án đầu tư hoặc hạng mục của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.
3. Hoạt động lấn biển mà có phần diện tích thuộc một trong các khu vực sau đây thì chỉ được thực hiện khi được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư:
a) Khu vực bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được công nhận theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa;
b) Di sản thiên nhiên theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
c) Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng đã được công bố theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, pháp luật về lâm nghiệp;
d) Khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo quy định của pháp luật về thủy sản;
đ) Khu vực cảng biển, vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, luồng hàng hải, vùng nước để xây công trình phụ trợ khác theo quy định của pháp luật về hàng hải;
e) Cửa sông và các khu vực đã được quy hoạch, sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.
4. Khu vực biển được xác định để thực hiện hoạt động lấn biển trong quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư thì việc quản lý, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển như đối với đất đai trên đất liền.
5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động lấn biển được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động lấn biển; thanh tra, kiểm tra hoạt động lấn biển và quản lý khu vực lấn biển theo quy định của pháp luật;
b) Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm quản lý, kiểm tra hoạt động lấn biển; ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến hoạt động lấn biển;
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý, giao đất, cho thuê đất để lấn biển, thanh tra, kiểm tra hoạt động lấn biển và quản lý, sử dụng khu vực lấn biển trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
6. Việc giao khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển được tiến hành đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
⇒ Như vậy, đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc nhóm đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp tùy vào mục đích sử dụng. Chế độ sử dụng loại đất này được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua hình thức giao đất hoặc cho thuê đất.
>> Tham khảo thêm: Tư vấn về mức bồi thường khi bị thu hồi đất ở tp.hcm
Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 5 Nghị định 88/2024/NĐ-CP về về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp là đất bãi bồi như sau:
Điều 5. Các trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất quy định tại khoản 3 Điều 95 của Luật Đất đai
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 138 của Luật Đất đai.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã sử dụng đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 139 của Luật Đất đai.
⇒ Để được bồi thường khi Nhà nước thu đất theo pháp luật đất đai thì cần phải kiểm tra thời điểm, nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đối với đất thu hồi mà hộ gia đình sử dụng; đối chiếu với hồ sơ, tài liệu để xem xét, giải quyết việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân.
Đối với đất bãi bồi, khả năng được bồi thường phụ thuộc vào nguồn gốc và hình thức sử dụng:
- Trường hợp được bồi thường: Nếu cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất bãi bồi do được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc giao đất không thu tiền sử dụng đất nhưng đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai 2024 (đất sử dụng ổn định trước ngày 01-07-2014 và không có tranh chấp), thì khi thu hồi sẽ được bồi thường về đất.
- Trường hợp không được bồi thường về đất: Theo quy định tại Điều 190 Luật Đất đai 2024, đất bãi bồi ven sông, ven biển thường được Nhà nước cho thuê đất. Nếu đất đang trong thời hạn thuê và hình thức là thuê đất trả tiền hàng năm thì theo Điều 101 Luật Đất đai 2024, người sử dụng đất không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Nếu đất bãi bồi do người dân tự ý lấn chiếm, sử dụng không đúng quy hoạch hoặc không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì theo Điều 101 Luật Đất đai 2024, Nhà nước thu hồi sẽ không bồi thường về đất.
>> Tham khảo thêm: Bồi thường giải phóng mặt bằng cho nhà đất chưa có giấy chứng nhận
Việc xác định quyền lợi khi thu hồi đất bãi bồi đòi đặt ra yêu cầu pháp lý:
- Về tính ổn định: "Sử dụng ổn định" là một trong những điều kiện cần nhưng chưa đủ. Người sử dụng đất cần chứng minh được thời điểm bắt đầu sử dụng thông qua các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024 để áp dụng các điều khoản chuyển tiếp về điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về thực tiễn áp dụng: Đất bãi bồi có đặc thù biến dạng tự nhiên. Do đó, hồ sơ địa chính và quy hoạch tại địa phương là căn cứ để xác định tính hợp pháp của việc chiếm hữu và sử dụng. Nếu người dân sử dụng đất vượt quá diện tích được giao/thuê (lấn chiếm thêm bãi bồi mới hình thành), phần diện tích lấn chiếm đó có thể không được bồi thường về đất.
⇒ Tóm lại: Người sử dụng đất bãi bồi ổn định chỉ được bồi thường về đất khi có GCNQSDĐ hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các trường hợp còn lại có thể được xem xét bồi thường chi phí đầu tư và tài sản hợp pháp trên đất nếu phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
>> Tham khảo thêm: Luật sư tư vấn bồi thường tái định cư
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Đất bãi bồi sử dụng ổn định có được bồi thường khi nhà nước thu hồi? nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Đất bãi bồi sử dụng ổn định có được bồi thường khi nhà nước thu hồi? chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội