Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không đưa ra một định nghĩa cụ thể cho thuật ngữ "chiếm đoạt tài sản". Dù vậy, dựa trên cơ sở lý luận và thực tế, có thể hiểu một cách khái quát như sau: hành vi chiếm đoạt tài sản là một hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện qua việc dịch chuyển tài sản một cách trái pháp luật từ sự quản lý của chủ thể khác sang phạm vi chiếm hữu, định đoạt của người phạm tội, nhằm mục đích tước đoạt quyền sở hữu của chủ tài sản.
Hành vi "chiếm đoạt tài sản", có các yếu tố cốt lõi sau:
+ Hành vi khách quan: là hành động cụ thể nhằm lấy tài sản ra khỏi sự kiểm soát của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hành vi này có thể đa dạng, từ lén lút (trong tội trộm cắp), công khai dùng vũ lực (trong tội cướp tài sản), đến việc dùng thủ đoạn gian dối (trong tội lừa đảo).
+ Mặt chủ quan: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả là tài sản sẽ bị chuyển dịch và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Quan trọng nhất là mục đích chiếm đoạt, tức là ý chí muốn biến tài sản của người khác thành của mình, tước đi hoàn toàn quyền sở hữu của chủ tài sản.
Việc hiểu đúng bản chất của "chiếm đoạt tài sản" là chìa khóa để phân biệt các tội phạm hình sự với các tranh chấp dân sự, kinh tế, đặc biệt là trong các vụ việc có dấu hiệu vi phạm hợp đồng nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi "chiếm đoạt tài sản" bao gồm:
- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 169 BLHS 2015;
- Tội công nghiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 BLHS 2015;
- Tội lừa đảo chiết đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS 2015;
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 BLHS 2015, được sửa đổi bổ sung bởi khoản 35 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 2015;
- Tội dử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tài Điều 290 BLHS 2015;
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 355 BLHS 2015.
>>Tham khảo thêm: Hướng dẫn khởi kiện, tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tình huống: Nguyễn Văn A là người có quyền sử dụng thửa đất thổ cư tại phường X, quận Y, thành phố H. Năm 2017, A chuyển nhượng thửa đất trên cho anh Trần Văn B với giá 5 tỷ đồng, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng theo đúng quy định của pháp luật, A đã nhận đủ tiền theo hợp đồng. Do bận công tác, anh B chưa nhận giấy tờ và nhờ A làm giúp thủ tục sang tên. Năm 2018, A lợi dụng việc anh B đi công tác xa, chủ động tìm gặp và bán thửa đất trên cho anh Hoàng Văn C với giá 3,5 tỷ đồng. Sau khi chuyển tiền cho A, anh C đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi anh C triển khai xây dựng công trình trên đất thì anh B phát hiện và làm đơn tố giác đến cơ quan điều tra. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự; giá trị thửa đất được định giá là 4 tỷ đồng. Trường hợp này, việc xác định bị hại và tài sản chiếm đoạt là như thế nào?
Vấn đề cần giải quyết: Xác định chính xác ai là bị hại và tài sản bị chiếm đoạt là gì để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn A về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hướng dẫn từ TANDTC như sau:
Nguyễn Văn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị hại là anh Hoàng Văn C vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và anh B được xác lập trước và hợp pháp theo quy định tại Điều 117 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Hợp đồng đã được công chứng, chứng thực, anh B đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền, A đã nhận đủ tiền). Việc A tiếp tục bán đất cho anh C là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh C. Do đó, tài sản bị chiếm đoạt là 3,5 tỷ đồng mà A đã nhận của anh C.
[Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023]
>>Tham khảo thêm: Soạn thảo đơn tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tình huống: Nguyễn Văn A nhờ người làm giả căn cước công dân đứng tên người khác. Sau khi nhận được căn cước công dân giả thì Nguyễn Văn A dán ảnh của mình trên căn cước công dân đó để lừa đảo chiếm đoạt 1.800.000.000 đồng.
Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 và “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)?
Vấn đề cần giải quyết: Xác định Nguyễn Văn A phạm một tội hay nhiều tội khi hành vi làm giả giấy tờ và hành vi lừa đảo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Hướng dẫn từ TANDTC như sau:
Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024]
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - nhận diện và hướng dẫn từ TANDTC nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - nhận diện và hướng dẫn từ TANDTC chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội