So sánh hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế?
Câu hỏi:

Những tiêu chí để phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế?

Trả lời:

Hợp đồng kinh tế là gì?

Hợp đồng kinh tế là hợp đồng có hiệu lực phát lý về việc thưc hiện trao đổi hàng hóa giữa bên mua và bán trong đó bên mua và bên bán đưa ra những thỏa thuận được ghi đầy đủ và chi tiết trong hợp đồng như: phương thức thanh toán, tỷ giá, đồng tiền chung, điều kiện giao nhận hàng phẩm chất quy cách chủng loại số lượng, thời gian giao và nhận hàng... khi có tranh chấp thì đưa ra trọng tài kinh tế sử lý điều này được ghi rã trong hợp đồng.
Là văn bản có tính pháp lý mà nội dung gồm những thoả thuận giữa bên giao và bên nhận một công việc nào đó cần hoàn thành để bên nhận được trả một khoản tiền nào đó! Ngoài ra trong HĐKT còn có những thoả thuận khác nhằm đảm bảo cho hai bên làm tốt nghĩa vụ của mình như thời hạn, chất lượng, nơi thực hiện, phương thức thanh toán, giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn nghiệm thu, bàn giao...

Hợp đồng dân sự là gì ? hợp đồng kinh tế là gì? so sánh hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế?

Trước hết, câu hỏi của bạn đã trả lời một phần rồi đó.
Một hợp đồng để phân biệt là HĐ dân sự hay HĐ KT thì phải xét đến đối tượng và mục đích của hợp đồng.
Giống nhau: đều là sự thỏa thuận giữa hai bên ký kết hợp đồng.
Khác ở chỗ là: Hợp đồng kinh tế: chủ thể là pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.... và mục đích là: kinh doanh ( mục đích đạt được là lợi ích kinh tế).
Hợp đồng dân sự là một quan hệ dân sự làm phát sinh, thay đổi hoặc hủy bỏ một giao dịch, và mục đích không vì lợi kinh tế.

Thế nào là một hợp đồng kinh tế! cách đây3 năm, 11 tháng #3021

Theo luật kinh tế Việt Nam và trong các quyển hướng dẫn về cách soạn thảo hợp đồng kinh tế thì.

Hợp đồng kinh tế là một sự thỏa thuận giữa hai bên được gọi là chủ thể của hợp đồng, các chủ thể sẽ ràng buộc với nhau bởi các điều và các khoản trong đó chia ra làm điều khoản chính, điều khoản tùy nghi và điều khoản thường lệ.

Vậy chúng ta cần quan tâm nhất những vấn đề gì của một hợp đồng kinh tế, theo tôi:

1. Phạm vi cung cấp và giá trị hợp đồng.

2. Điều khoản thanh toán.

3. Điều kiện và phương thức giao hàng.

4. Hiệu lực của hợp đồng.

Anh em cho xin thêm ý kiến phản bác nào!!

Hợp đồng dân sự là gì ? hợp đồng kinh tế là gì? so sánh hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế?

 
Về cơ bản, một hợp đồng là một sự thỏa thuận về việc sẽ thực hiện hay không thực hiện một điều gì đó. Một hợp đồng có tính logic có nghĩa là nó có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực. Mỗi điểm thỏa thuận trong hợp đồng đều phải rõ ràng, có chủ thể đi kèm để tránh những tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra. Nếu hỏi bất cứ một luật sư nào, họ sẽ trả lời bạn rằng việc kiện cáo rất tốn kém nhưng lại không hiệu quả để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng. Hơn nữa, bạn sẽ mất đi quyền kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp khi với sự xuất hiện toà án.
Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Tuy hình thức và nội dung của hợp đồng dân sự được Bộ luật quy định nhưng để soạn thảo được một hợp đồng thể hiện ý chí của các bên, bảo đảm không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì là vấn đề không dễ.
Hợp đồng kinh tế là loại hợp đồng được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (HĐKT), được ban hành từ năm 1989. Theo đó, HĐKT là loại hợp đồng được ký giữa pháp nhân với pháp nhân, hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
HĐKT là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thỏa thuận khác nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, HĐKT là một khái niệm vừa rất rộng, thậm chí còn có thể bị coi là một khái niệm “mơ hồ” (về đối tượng của hợp đồng), nhưng cũng lại rất hẹp về chủ thể ký kết (các bên ký kết). Mặt khác, với những thay đổi mang tính tất yếu của nền kinh tế thị trường, những quy định của Pháp lệnh HĐKT tỏ ra không còn thích ứng với môi trường kinh doanh đa dạng về mọi mặt, phản ánh một cách cụ thể trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường nước ta trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc Bộ Luật Dân sự năm 2005 “khai tử” Pháp lệnh HĐKT không nằm ngoài dự đoán của giới chuyên môn, mà còn thể hiện là một kết thúc có hậu cho cả một quá trình tranh luận sôi nổi, nhằm làm thay đổi cơ bản về tư duy nhận thức của nhà làm luật. Bài viết này nhằm giới thiệu một số vấn đề cơ bản liên quan đến việc ký kết các giao dịch kinh doanh giữa các bên như là hệ quả của sự “xóa sổ” HĐKT.

Tên của các hợp đồng được ký kết nên thể hiện rõ nội dung của thỏa thuận
Cho đến nay, không ít doanh nghiệp vẫn có thói quen ký kết hợp đồng với các đối tác làm ăn của mình với tên gọi là HĐKT. Thực tế này là hệ quả của việc quy định khái niệm về HĐKT theo Pháp lệnh HĐKT. Các doanh nghiệp này cho rằng, nếu tên của hợp đồng mà khác với cái gọi là HĐKT thì có thể sẽ không có văn bản pháp luật nào điều chỉnh và vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra, sẽ không có cơ quan thụ lý giải quyết. Có thể nói, đây là một quan điểm lỗi thời, bởi lẽ, quan hệ hợp đồng xét về bản chất chính là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nào đó. Vậy tại sao tên gọi của hợp đồng lại không thể hiện cụ thể nội dung của các giao dịch do các bên ký kết với nhau? Mặt khác, nếu có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước không phải căn cứ vào tên gọi của hợp đồng mà áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp trước tiên phải được xác định thuộc về loại tranh chấp gì, do hệ thống văn bản pháp luật nào điều chỉnh để từ đó có thể xác định chính xác các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ bị tranh chấp, nhằm giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật.
Do đó, lời khuyên đối với các doanh nghiệp là khi ký kết một hợp đồng nào đó với đối tác kinh doanh của mình, nên xác định cụ thể nội dung của hợp đồng ký kết mà đặt tên cho hợp đồng. Điều này vừa dễ cho công tác quản lý (do có cơ sở để phân loại hợp đồng theo tên gọi), vừa là cơ sở để các bên có thể tìm hiểu một cách có hiệu quả các quy định của pháp luật về loại hợp đồng với nội dung đó (do đã giới hạn được phạm vi của các văn bản pháp luật điều chỉnh loại quan hệ giao dịch sắp ký kết). Ví dụ, nếu là hợp đồng gia công thì các bên có thể đặt tên cho hợp đồng của mình là “hợp đồng gia công”, mua bán hàng hóa thì ghi rõ là “hợp đồng mua bán hàng hóa”…

Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại hay các luật khác được ưu tiên áp dụng
“Sát thủ” của Pháp lệnh HĐKT là Bộ Luật Dân sự. Thế nhưng, nội dung của Bộ Luật Dân sự và Luật Thương mại lại có một số quy định trùng nhau về một số loại hợp đồng thông dụng, ví dụ hợp đồng gia công hàng hóa. Nếu xét về mặt đối tượng điều chỉnh thì Bộ Luật Dân sự có đối tượng điều chỉnh rộng hơn Luật Thương mại. Nhưng nếu xét về mức độ chi tiết của các điều luật về một số loại hợp đồng được cả hai văn bản luật này điều chỉnh thì Luật Thương mại lại có những quy định chi tiết hơn. Luật Thương mại là một đạo luật điều chỉnh các hoạt động thương mại. Do đó, nếu tính chất của giao dịch giữa các bên là hoạt động thương mại thì các hoạt động thương mại đó phải chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại.
Trong khi đó, Bộ Luật Dân sự được coi là một bộ luật chung, chứa đựng rất nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Do đó, có những hoạt động thương mại giữa các các bên mà không được quy định trong Luật Thương mại và các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ Luật dân sự.
Cũng tương tự như vậy, đối với những hoạt động thương mại đặc thù, được quy định trong các luật khác thì quy định của văn bản luật đó lại được ưu tiên áp dụng, ví dụ hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không sẽ do các quy định của Luật Hàng không dân dụng điều chỉnh.
Nói cách khác, thứ tự ưu tiên áp dụng quy định pháp luật là đi từ quy định pháp luật đặc thù đến quy định pháp luật chung. Nếu không có quy định đặc thù thì mới áp dụng quy định pháp luật chung.
Thời hiệu giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc ký kết hợp đồng
Trước đây, theo quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế chỉ là… 6 tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Thế nhưng, kể từ ngày 1/1/2005, ngày có hiệu lực của Bộ Luật Tố tụng dân sự, cũng là ngày chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 2 năm. Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự, vụ án dân sự bao gồm cả các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Như vậy, kể từ thời điểm đầu năm 2005, thời hiệu để các bên có thể khởi kiện nhằm giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại đã được kéo dài đến 2 năm thay vì chỉ 6 tháng như trước đây.
Luật Thương mại mới năm 2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 cũng có quy định thống nhất với Bộ Luật Tố tụng dân sự về thời hiệu là 2 năm đối với các tranh chấp thương mại, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất trong việc áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Luật Thương mại đó là trường hợp doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics sau khi bị khiếu nại đã không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn 9 tháng, kể từ ngày giao hàng. Như vậy, thời hiệu khởi kiện đối với dịch vụ logistics chỉ có 9 tháng, tính từ ngày giao hàng.
 

Hợp đồng thương mại là gì? So sánh giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự?

Nếu phân tích ra thì có rất nhiều điểm giống nhau nhưng ở đây mình chỉ ra những điểm cơ bản nhất để phân biệt hai loại hợp đồng này.
Sự khác nhau:
Có thể thấy hợp đồng dân sự là một dạng hợp đồng bao quát chung nhất, bao trùm nhất các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, trao đổi mua bán... còn hợp đồng thương mại chỉ là một phần nhỏ trong hợp đồng dân sự mà thôi. Tức là hợp đồng dân sự là mẹ của hợp đồng thương mại và hợp đồng thương mại là một dạng của hợp đồng dân sự, một dạng hợp đồng chuyên ngành mà luật thương mại điều chỉnh.
Hợp đồng thương mại chỉ những hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi đó có thể là hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại, đầu tư.
Còn hợp đồng dân sự chỉ các hoạt động của dân sự trong đó có thể có mục đích sinh lợi hoặc không có mục đích sinh lợi (hợp đồng tặng cho).
Điểm khác cơ bản về chủ thể thì hợp đồng thương mại đòi hỏi ít nhất là một trong các bên tham gia phải có tư cách thương nhân. Tư cách thương nhân này được hiểu đó là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, có đămg ký kinh doanh, còn nếu là cá nhân hoạt động thường xuyên thì phải đăng ký kinh doanh.
Ví dụ: A mua của B một con bò để về giết thịt làm giỗ nhà thờ họ, trong khi đó thì B là một người chăn nuôi bình thường không có đăng ký kinh doanh chăn nuôi gia súc thì trong trường hợp này có hợp đồng mua bán hàng hóa và đối tượng điểu chỉnh của nó là luật dân sự
Trường hợp hau công ty C và D mua bán hàng hóa vật liệu xây dựng để bán lại, hoặc C bán cho F trong đó F là một người dân mua về để là nhà thì cả hai trường hợp này đều là hợp đồng thương mại bởi vì trường hợp đầu C bán cho D thì cả hai cùng được đăng ký kinh doanh và bán để kiếm lời. Còn trường hợp C bán cho F thì C có chức năng kinh doanh và bán cho F với mục đích thu lời cho dù F chỉ là cá nhân.
Điểm giống nhau thì cả hai bên phải tự do thỏa thuận những điều mà luật không cấm. Khi ký kết thì không bị lừa dối, không bị hạn chế năng lục hành vi...

Phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế?

1. Xin cho biết sự giống và khác nhau giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mai như thế nào?
2. Xin cho biết Hợp đồng thuê khoán công việc là loại hợp đồng gì? và hợp đổng uỷ quyền bán tài sản là loại hợp đồng gì?
* Hợp đồng dân sự có một số đặc điểm như sau:
Về nội dung, hợp đồng dân sự có nội dung rất rộng, có thể là mua bán tài sản, thuê tài sản, vận chuyển khách và tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ.
Về hình thức tuỳ thuộc vào nội dung, tính chất của hợp đồng cũng như tuỳ thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong công việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định, khi các bên thoả thuận giao kết bằng hình thức nhất định thì hợp đồng được coi là đã giao kết khi đã thoả thuận theo từng hình thức đó.
Nếu trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bảnm phải được chứng nhận của công chứng Nhà nước,  chứng thực, dăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó như vậy hình thức của hợp đồng dân sự rất phong phú đa dạng.
Về chủ thể hợp đồng dân sự quy định rất rộng, hợp đồng dân sự có thể được ký kết giữa cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình tổ hợp tác, cá nhân chủ thể của hợp đồng dân sự phải là người có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp nhân là tổ chức có đủ các yếu tố quy định tại Điều 94 BLHS, hộ gia đình gồm các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất trong các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, và trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định. Tổ hợp tác gồm từ ba cá nhân trở lên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi, cùng chịu trách nhiệm, trên cơ sở hợp đồng hợp tác xã có chứng thực của UBND cấp xã.
Vè mục đích trong trường hợp đồng dân sự một bên hoặc các bên ký kết phải nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng. Như vậy pháp luật không bắt buộc cả hai bên trong hợp đồng dân sự phải ký kết hợp đồng nhằm mục đích sinh hoạt.
Hợp đồng kinh tế

Là một chế định đặc thù của pháp luật về kinh tế, chế độ hợp đồng kinh tế quy định: Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, điều kiện chủ thể hợp đồng kinh tế, thủ tục và trình tự ký kết hợp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế...
Hợp đồng dân sự

Điều 410 BLDS năm 2005 viện dẫn việc áp dụng các quy định từ Điều 127 đến Điều 138 vì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, do đó, cần áp dụng những quy định về giao dịch dân sự vô hiệu đối với hợp đồng vô hiệu.

Theo quy định tại Điều 127 BLDS, giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 BLDS thì vô hiệu. Về lý thuyết, có thể phân chia thành hai loại vô hiệu của giao dịch: đó là giao dịch đương nhiên vô hiệu (hay còn gọi là giao dịch vô hiệu tuyệt đối) và giao dịch dân sự vô hiệu theo đề nghị của người có quyền, lợi ích liên quan ( hay còn gọi là giao dịch vô hiệu tương đối). Nếu không có đề nghị hoặc có đề nghị nhưng không được Toà án chấp nhận thì giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật. BLDS quy định 7 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu. Đây chỉ là những trường hợp vô hiệu nói chung. Ngoài ra, Điều 411 quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, cụ thể :

Trong trường hợp ngay từ thời điểm ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu.
Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được, nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.Quy định này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.
Đồng thời, BLDS năm 2005 giải quyết mối quan hệ giữa vô hiệu của hợp đồng chính và vô hiệu của hợp đồng phụ, trong đó sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được giải quyết theo Điều 137 BLDS năm 2005, theo đó hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Trong trường hợp này, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

1.1.11. Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tại Điều 136 được áp dụng đối với yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, vì hợp đồng là một loại phổ biến của giao dịch dân sự.
Xuất phát từ đó, thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của BLDS năm 2005 là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của BLDS năm 2005 thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế, có nghĩa là yêu cầu Toà án vào bất kỳ thời điểm nào cũng được.

1.1.12. Thực hiện hợp đồng

Đây là một trong những giai đoạn quan trọng của hợp đồng, vì mục đích của các bên có đạt được hay không phụ thuộc vào vấn đề hợp đồng được thực hiện tốt hay không. Do đó, khi thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 412 BLDS.

1.1.13. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận.
Bên cầm giữ có quyền cầm giữ toàn bộ hoặc một phần tài sản; thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ; yêu cầu bên có tài sản bị cầm giữ thanh toán các chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản đó và phải bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.
Quyền cầm giữ chấm dứt theo thỏa thuận của các bên; khi bên cầm giữ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ hoặc bên có tài sản bị cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ.

1.1.14. Về phạt vi phạm đối với vi phạm hợp đồng

BLDS năm 2005 không quy định phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như quy định của BLDS năm 1995, mà quy định đó là một trong các nội dung của hợp đồng, nếu các bên có thoả thuận và tùy từng loại hợp đồng (khoản 7 Điều 402).
Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng về việc bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận. Về quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, BLDS quy định: các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.

1.1.15. Sửa đổi hợp đồng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí trong việc giao kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó.

1.1.16. Chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

Hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Hợp đồng đã được hoàn thành:
Các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, ví dụ, bên bán đã giao tài sản cho bên mua, bên mua đã trả đủ tiền cho bên bán.
- Theo thoả thuận của các bên.
Ví dụ, A cho B vay tiền. Nếu A thoả thuận với B xoá khoản nợ đó cho B thiìhợp đồng vay tiền giữa A và B chấm dứt.
- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện.
Đây là những loại hợp đồng bắt buộc người có nghĩa vụ phải tự họ thực hiện, không được chuyển cho người khác. Ví dụ, A ký hợp đồng với hoạ sĩ B vẽ cho mình bức tranh; B chưa vẽ xong thì không may bị chết; hợp đồng này sẽ chấm dứt vì bức tranh đó phải do chính hoạ sĩ B vẽ theo hợp đồng đã giao kết.
- Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện.
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

1.1.17. Huỷ bỏ hợp đồng

Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Hậu quả pháp lý là: khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.
Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường thiệt hại.

1.1.18. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Hậu quả pháp lý là: Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán.
Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại.

1.1.19. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Trong quá trình soạn thảo BLDS, có ý kiến đề nghị thời hạn nêu trên cần được tính từ thời điểm bên có quyền bị vi phạm biết hoặc phải biết quyền của mình bị vi phạm; nếu tính thời điểm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm, thì quyền lợi của bên có quyền trong nhiều trường hợp không được bảo vệ tốt, vì họ có thể không biết quyền của họ đã bị vi phạm. BLDS năm 2005 không thể hiện ý kiến này, mà giải quyết mục tiêu tương tự bằng cách tính thời hạn của thời hiệu khởi kiện, cụ thể: nếu người có quyền khởi kiện gặp trở ngại khách quan, trong đó có trường hợp không biết hoặc không thể biết quyền của mình bị xâm phạm, thì thời gian này cũng không tính vào thời hạn của thời hiệu (đoạn 3 khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2005).
QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây