Tranh chấp thừa kế nhà đất đã bán cho người thứ ba

Thứ năm - 01/10/2026 06:20
Phân chia di sản thừa kế nhưng bỏ sót người được hưởng, sau đó tài sản đã bị đem bán cho người thứ ba là tranh chấp rất phổ biến và phức tạp. Trong trường hợp này, các đồng thừa kế bị bỏ sót có đòi lại được nhà đất hay chỉ được thanh toán bằng tiền? Cùng tìm hiểu cách Tòa án xác định giá trị di sản và buộc người đã định đoạt tài sản phải hoàn trả kỷ phần qua vụ án tranh chấp thừa kế nhà đất thực tế dưới đây.
Tranh chấp thừa kế nhà đất đã bán cho bên thứ ba
Tranh chấp thừa kế nhà đất đã bán cho bên thứ ba
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án số 1607/2026/DS-ST được xét xử ngày 23/7/2026 bởi Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp liên quan đến “yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”, “yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà” và “quyền sử dụng đất và tranh chấp di sản thừa kế”.

  • Nguyên đơn là bà D.T.N, ông N.T.X và ông N.T.V

Người đại diện theo ủy quyền: ông T.T.K sinh năm 1966

  • Bị đơn là bà N.T.K.X và bà N.T.X.H

Người đại diện theo ủy quyền: bà N.T.P.T sinh năm 1998, N.T.N.D sinh năm 1991

Ngoài ra, vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông N.H.V và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N.H.V; ông N.H.P; bà L.T.H.T; bà L.T.T.T; ông N.K.T; bà N.T.L và Phòng Công chứng – Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ án phát sinh từ tranh chấp về quyền thừa kế đối với di sản do ông N.N.Q và bà N.T.C để lại. Ông Q và bà C qua đời không để lại di chúc và có tám người con. Trong khối di sản có nhà, đất tại phường H.B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ông Q và bà C qua đời, một số người con đã thực hiện thủ tục nhận và phân chia di sản đối với nhà, đất này. Tuy nhiên, ông N.T.L và ông N.H.V là những người thuộc hàng thừa kế nhưng không tham gia vào việc thỏa thuận phân chia di sản, đồng thời cũng không có văn bản thể hiện việc từ chối nhận di sản hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc phân chia. Sau đó, tài sản tiếp tục được đăng ký và chuyển dịch qua nhiều người. Do ông N.T.L chết sau thời điểm mở thừa kế nên phần quyền thừa kế mà ông được hưởng từ di sản của ông Q và bà C trở thành di sản của ông N.T.L và được những người thừa kế của ông tiếp tục yêu cầu giải quyết. Từ đó, bà D.T.N cùng ông N.T.X và ông N.T.V khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết quyền thừa kế và các vấn đề liên quan đến việc phân chia, chuyển dịch đối với phần tài sản nêu trên.

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ông N.N.Q (chết năm 1993) và bà N.T.C (chết năm 2002) không để lại di chúc, có tám người con. Di sản gồm nhà đất phường H.B, TP. Hồ Chí Minh. Năm 2007, ông N.N.H đại diện các thừa kế kê khai và được cấp giấy chứng nhận. Ngày 08 và 21/7/2008, ông N.N.H cùng bà N.T.K.X, bà N.T.H.H, bà N.T.X.H và ông N.Q.H lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Phòng công chứng, nhường quyền thừa kế cho ông N.N.H, với cam kết "không còn thừa kế nào khác", trong khi ông N.T.L, ông N.H.V và những người thừa kế còn lại không tham gia. Sau khi ông N.N.H chết, bà N.T.K.X nhận toàn bộ phần nhà đất còn lại theo thỏa thuận ngày 03/5/2010, được cấp giấy chứng nhận rồi bán cho bà L.T.M.H với giá 1 tỷ đồng (bị đơn cho biết chưa nhận được tiền). Năm 2014, ông N.K.T mua lại với giá 1,8 tỷ đồng, cập nhật biến động, tháo dỡ và xây nhà mới. Năm 2018, vợ con ông N.T.L (bà D.T.N, ông N.T.X, ông N.T.V) khởi kiện yêu cầu tuyên bố thỏa thuận phân chia di sản vô hiệu, hủy các giấy chứng nhận và chia thừa kế phần của ông N.T.L trị giá 700 triệu đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu tuyên vô hiệu và hủy giấy tờ, chỉ giữ yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị.

Ngày 23/7/2026, TAND Khu vực 2 – TP. Hồ Chí Minh xác định còn thời hiệu (chưa quá 30 năm), tám người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, ông N.N.H chỉ là người đại diện nên không có quyền sở hữu riêng, và thỏa thuận năm 2008 thiếu người thừa kế nên không bảo đảm căn cứ pháp lý. Vì nguyên đơn đã rút yêu cầu hủy giấy tờ và không tranh chấp với người mua sau nên Tòa không xét quyền của ông N.K.T, bà N.T.L mà chỉ giải quyết bằng tiền. Tòa lấy giá 1 tỷ đồng (giá bán năm 2010) làm giá trị di sản, chia sáu phần bằng nhau nên mỗi kỷ phần là 167 triệu đồng. Bà N.T.K.X, người đứng tên và trực tiếp chuyển nhượng, phải thanh toán 167 triệu đồng cho bà D.T.N, ông N.T.X, ông N.X.V (kỷ phần ông N.T.L) và 167 triệu đồng cho người thừa kế của ông N.H.v, kèm lãi chậm thi hành. Phần yêu cầu vượt quá 167 triệu đồng (533 triệu đồng) không được chấp nhận. Bà N.T.X.H không phải chịu trách nhiệm vì chỉ ký thỏa thuận, không nhận và định đoạt tài sản.

3. Bình luận nội dung bản án

3.1. Về việc xác định quyền thừa kế của ông N.T.L

Theo diễn biến vụ việc, ông Q chết năm 1993, bà C chết năm 2002, còn ông Long chết năm 2007. Theo khoản 1 Điều 611 BLDS 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Theo Điều 613, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Theo Điều 614, quyền và nghĩa vụ tài sản của người thừa kế phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, khi ông Q và bà C chết, ông N.T.L vẫn còn sống. Ông thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ (điểm a khoản 1 Điều 651), được hưởng phần di sản bằng nhau với các đồng thừa kế cùng hàng (khoản 2 Điều 651), và quyền hưởng di sản của ông đã phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, tức là trước khi ông chết. Do không có văn bản từ chối nhận di sản theo Điều 620, quyền này không bị chấm dứt. Phần quyền tài sản này (Điều 115) trở thành một phần di sản của chính ông N.T.L  (Điều 612). Khi ông chết năm 2007, phần đó được chuyển cho những người thừa kế của ông, gồm vợ là bà D.T.N và hai con là ông N.T.X, ông N.T.V, đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất (điểm a khoản 1 Điều 651) và được hưởng phần bằng nhau (khoản 2 Điều 651).

Cách giải quyết của Tòa án là hợp lý về mặt xác định thời điểm phát sinh quyền thừa kế. Tòa không coi bà D.T.N, ông N.T.X, ông N.T.V là người trực tiếp hưởng di sản của ông Q, bà C, mà xác định họ hưởng thông qua kỷ phần thừa kế của ông N.T.L.

Điểm này cần phân biệt với thừa kế thế vị (Điều 652 BLDS 2015). Thế vị chỉ áp dụng khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, khi đó cháu được hưởng phần mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Ông N.T.L chết sau cha mẹ nên không thuộc trường hợp này. Nguyên đơn không đứng ở vị trí của một người con để nhận một suất thừa kế trực tiếp từ ông Q, bà C, mà nhận phần quyền tài sản vốn đã thuộc về ông N.T.L.

3.2. Việc phân chia di sản năm 2008 có ảnh hưởng đến quyền của ông N.T.L và ông N.H.V

Tòa án xác định văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 08 và 21/7/2008 chỉ có ông N.N.H, bà N.T.K.X, bà N.T.H.H, bà N.T.X.H và ông N.Q.H tham gia, trong khi ông N.T.L và ông N.H.V không tham gia, không có văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền hay tài liệu thể hiện việc đồng ý để người khác đại diện. Đáng chú ý, văn bản công chứng có nội dung những người tham gia cam kết ngoài họ ra không còn người thừa kế nào khác. Tuy nhiên, thực tế ông N.T.L và ông N.H.V là con của ông Q, bà C, thuộc hàng thừa kế thứ nhất (điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015) và được hưởng phần di sản bằng nhau với các đồng thừa kế cùng hàng (khoản 2 Điều 651). Theo Điều 613 và Điều 614, quyền hưởng di sản của họ đã phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, và theo Điều 609, Điều 610, mọi cá nhân bình đẳng về quyền hưởng thừa kế. Người thừa kế chỉ mất quyền này khi từ chối nhận di sản theo đúng thủ tục tại Điều 620 (lập thành văn bản, trước thời điểm phân chia di sản), điều kiện này không được thực hiện ở đây.

Như vậy, việc các bên phân chia di sản mà không có sự tham gia của đầy đủ những người có quyền thừa kế, dựa trên cam kết không đúng thực tế, đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tài sản (Điều 115) của những người không tham gia. Việc phân chia di sản do những người thừa kế thỏa thuận không thể làm mất quyền hưởng di sản của người không tham gia thỏa thuận. Tòa án vì vậy có cơ sở khi không công nhận việc phân chia trước đó là căn cứ làm mất quyền hưởng di sản của ông N.T.L và ông N.H.V, và xác định phần của họ vẫn tồn tại trong khối di sản.

Một điểm đáng chú ý là Tòa án không trực tiếp tuyên văn bản công chứng vô hiệu trong phần quyết định, vì tại phiên tòa nguyên đơn đã rút yêu cầu này. Theo Điều 5 BLTTDS 2015, đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt việc khởi kiện, và theo khoản 2 Điều 244, khi nguyên đơn rút yêu cầu và việc rút là tự nguyện thì Tòa đình chỉ phần yêu cầu đó. Vì vậy Tòa đình chỉ phần này và giới hạn phạm vi xét xử ở yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị. Nhận định của Tòa về việc văn bản phân chia di sản không có sự tham gia đầy đủ của những người thừa kế chủ yếu được sử dụng để xác định rằng quyền thừa kế của ông N.T.L và ông N.H.V vẫn tồn tại, làm cơ sở buộc người đã nhận và định đoạt tài sản là bà N.T.K.X thanh toán giá trị kỷ phần tương ứng.

3.3. Việc tòa án giải quyết bằng giá trị thay vì chia hiện vật

Trong vụ án này, tài sản đã trải qua nhiều lần đăng ký và chuyển nhượng. Đặc biệt, nguyên đơn cũng không còn yêu cầu hủy các giấy chứng nhận, không yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và không tranh chấp phần tài sản đã chuyển cho ông V.V.T.

Do đó, nếu Tòa án tiếp tục giải quyết theo hướng chia hiện vật thì sẽ làm phát sinh nhiều quan hệ pháp lý khác với người đang quản lý, sử dụng tài sản.

Việc Tòa án giới hạn việc giải quyết trong giá trị kỷ phần thừa kế phù hợp với phạm vi yêu cầu còn lại của nguyên đơn.

Điểm này cũng thể hiện nguyên tắc Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Khi nguyên đơn đã rút các yêu cầu về hủy giấy chứng nhận, hủy đăng ký biến động và không yêu cầu giải quyết các hợp đồng chuyển nhượng thì Tòa án không tiếp tục mở rộng phạm vi xét xử sang các vấn đề đó.

3.4. Về việc xác định số tiền 1 tỷ đồng làm cơ sở chia thừa kế

Nguyên đơn yêu cầu được hưởng 700 triệu đồng nhưng không cung cấp được căn cứ chứng minh giá trị kỷ phần của ông N.T.L đến mức này. Trong khi đó, bà N.T.K.X thừa nhận đã chuyển nhượng nhà, đất với giá 1 tỷ đồng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Do đó, Tòa án sử dụng 1 tỷ đồng làm căn cứ xác định giá trị phần tài sản tranh chấp để tính kỷ phần thừa kế. Theo đó, mỗi kỷ phần được xác định khoảng 167 triệu đồng, trong đó phần của ông  được chuyển cho những người thừa kế của ông. Cách giải quyết này là hợp lý vì Tòa án đã dựa trên giá trị tài sản có căn cứ chứng minh thay vì chấp nhận số tiền 700 triệu đồng do nguyên đơn yêu cầu nhưng chưa chứng minh được.

3.5. Phán quyết của Tòa án

Phán quyết của Tòa án là có cơ sở và tương đối phù hợp với diễn biến vụ việc. Tòa án đã xác định đúng quyền thừa kế của ông N.T.L và ông N.H.V, đồng thời bảo đảm phần quyền lợi của những người thừa kế của họ. Việc giải quyết bằng giá trị kỷ phần thay vì tiếp tục phân chia hiện vật cũng phù hợp với thực tế tài sản đã được chuyển dịch qua nhiều người. Bên cạnh đó, Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu mà nguyên đơn còn giữ lại, sau khi đã rút các yêu cầu về hủy văn bản công chứng và giấy chứng nhận. Cách giải quyết này góp phần hạn chế việc làm phát sinh thêm tranh chấp đối với những giao dịch đã được thực hiện trước đó

4. Tổng kết

Vụ án cho thấy hệ quả của việc phân chia di sản khi không có đủ người thừa kế tham gia. Thỏa thuận năm 2008 bỏ sót ông N.T.L và ông N.H.V, nhưng quyền thừa kế của hai ông vẫn tồn tại vì đã phát sinh từ thời điểm mở thừa kế. Do nhà đất đã được chuyển nhượng cho người mua sau và nguyên đơn rút yêu cầu hủy giấy tờ, Tòa án chỉ giải quyết bằng tiền, buộc bà N.T.K.X, người đứng tên và bán nhà, trả mỗi kỷ phần 167 triệu đồng. Cách giải quyết này có căn cứ, tuy giá trị di sản tính theo giá năm 2010 (1 tỷ đồng) và cách chia sáu phần còn chưa được giải thích đầy đủ. Vậy nên khi chia di sản phải bảo đảm đủ người thừa kế tham gia, và khi khởi kiện phải chuẩn bị chứng cứ về giá trị tài sản.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư giỏi về giải quyết tranh chấp đất đai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây