Tranh chấp xác định sai người thừa kế bắt buộc

Thứ tư - 22/04/2026 22:20
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, việc xác định đúng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có ý nghĩa quyết định đến tính hợp pháp của bản án. Tuy nhiên, không phải lúc nào Tòa án cấp sơ thẩm cũng nhận diện chính xác chủ thể này, dẫn đến việc phân chia di sản sai lệch và buộc các bên phải kháng cáo để được xem xét lại ở cấp phúc thẩm. Tình huống dưới đây là một ví dụ điển hình, phản ánh những hệ quả pháp lý phát sinh khi áp dụng chưa đúng quy định.
Tranh chấp xác định sai người thừa kế bắt buộc
Tranh chấp xác định sai người thừa kế bắt buộc
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

- Bản án 208/2017/DS-PT ngày 04/10/2017 về “tranh chấp thừa kế tài sản” của TAND tỉnh Tây Ninh giữa nguyên đơn: Ông Lê Văn C sinh năm 1962, bà Lê Thị C1, sinh năm 1967 và Bà Lê Thị C2, sinh năm 1962 với bị đơn: Bà Mai Thị M, sinh năm 1955. 

- Vụ án tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp phân chia di sản thừa kế theo di chúc mà có người thừa kế không phụ thuộc vào nội . Ở vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm chưa phát hiện và áp dụng sai quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm là đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo di chúc mà có người thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp thừa kế là nhà đất

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ông Lê Văn T và bà Mai Thị M chung sống với nhau nhưng không có con chung, có nhận nuôi một người con nuôi là chị Lê Thị T (có giấy khai sinh hợp pháp). Sau khi kết hôn, chị T đã lập gia đình và ra ở riêng. Tuy nhiên, từ khi ông T qua đời, vợ chồng chị T quay về sinh sống cùng bà M.

Trong thời kỳ hôn nhân, ông T và bà M tạo lập được khối tài sản chung, trong đó có quyền sử dụng diện tích đất 3.169,7m² cùng một số tài sản khác. Diện tích đất này do ông Lê Văn T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25/11/1994. Hiện nay, tài sản này do bà M và chị T đang quản lý, sử dụng.

Ngày 21/10/2015, ông T qua đời. Trước đó, vào ngày 20/12/2010, ông T đã lập di chúc hợp pháp, theo đó để lại cho ông Lê Văn C, bà Lê Thị C1 và bà Lê Thị C2 (là em ruột của ông T) phần đất có diện tích 1.200m² nằm trong tổng diện tích đất nêu trên.

Sau khi ông T chết, ông C đã công bố di chúc và yêu cầu bà M giao lại phần đất được di tặng. Tuy nhiên, bà M không đồng ý. Do đó, ngày 28/11/2016, ông C, bà C1 và bà C2 khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo di chúc.

- Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

Tại Bản án sơ thẩm số 32/2017/DS-ST ngày 17/8/2017, TAND huyện G, tỉnh Tây Ninh đã:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà C1 và bà C2;

  • Công nhận di chúc của ông T lập ngày 20/12/2010 là hợp pháp;

  • Quyết định chia phần đất diện tích 1.200m² theo nội dung di chúc, mỗi người được nhận 400m² cùng tài sản trên đất.

- Kháng cáo và xét xử phúc thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Văn C (đại diện theo ủy quyền của bà C1 và bà C2) yêu cầu bà M và chị T giao lại phần đất diện tích 1.000m².

Tại Bản án phúc thẩm số 208/2017/DS-PT ngày 04/10/2017, Tòa án đã nhận định bà Mai Thị M là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Tòa án đã:

  • Sửa bản án sơ thẩm;

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện;

  • Buộc bà M và chị T giao lại cho ông C, bà C1 và bà C2 tổng diện tích 1.000m² đất (mỗi người được nhận khoảng 333,33m²) cùng tài sản trên đất. 

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp

3.1 Nội dung vụ án tranh chấp thừa kế

Ông Lê Văn T và bà Mai Thị M chung sống với nhau, không có con chung nhưng có nhận nuôi một người con nuôi là chị Lê Thị T (có giấy khai sinh hợp pháp). Sau khi kết hôn, chị T lập gia đình và ra ở riêng. Tuy nhiên, từ khi ông T qua đời, vợ chồng chị T quay về sinh sống cùng bà M.

Trong thời kỳ hôn nhân, ông T và bà M tạo lập được tài sản chung gồm quyền sử dụng đất diện tích 3.169,7m² cùng một số tài sản khác. Quyền sử dụng đất này đứng tên ông T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25/11/1994. Hiện nay, tài sản do bà M và chị T quản lý, sử dụng.

Ngày 21/10/2015, ông T qua đời. Trước đó, ngày 20/12/2010, ông T lập di chúc hợp pháp, theo đó di tặng cho ông Lê Văn C, bà Lê Thị C1 và bà Lê Thị C2 (là em ruột của ông) phần đất diện tích 1.200m² trong tổng diện tích nêu trên.

Sau khi ông T chết, ông C công bố di chúc và yêu cầu bà M giao lại phần đất được di tặng nhưng bà M không đồng ý. Do đó, ngày 28/11/2016, ông C, bà C1 và bà C2 khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo di chúc.

3.2 Hiệu lực của di chúc và di tặng

Di chúc của ông T xác định rõ việc di tặng 1.200m² đất cho ba người em, nhưng không phân định cụ thể phần của từng người. Do đó, theo nguyên tắc, phần di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc.

Di chúc đã được xác định là hợp pháp, nên việc di tặng phát sinh hiệu lực từ thời điểm ông T chết, với điều kiện người được di tặng còn sống tại thời điểm mở thừa kế.

Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực di chúc là đúng, nhưng việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện mà không xem xét yếu tố thừa kế bắt buộc là thiếu sót.

3.3 Xác định phần di sản bắt buộc và hiệu lực một phần của di chúc

Tổng di sản của ông T trong khối tài sản chung là 1/2 diện tích đất, tương đương 1.584,85m².

Suất thừa kế theo pháp luật được xác định là:

  • 1.584,85m² : 2 = 792,425m²

  • Phần bà M được hưởng theo diện bắt buộc là: 792,425m² × 2/3 = 528,28m²

Sau khi trích phần này, phần di sản còn lại của ông T là 1.055,92m².

Tuy nhiên, di chúc lại định đoạt 1.200m², vượt quá phần tài sản mà ông T có quyền định đoạt. Do đó:

  • Di chúc chỉ có hiệu lực một phần;

  • Phần vượt quá phải được cắt giảm để đảm bảo quyền lợi của bà M.

3.4 Cấp sơ thẩm không việc xác định người thừa kế bắt buộc

Theo quy định tại Điều 669 BLDS 2005 (nay là Điều 644 BLDS 2015), bà M – là vợ hợp pháp của ông T – thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

Tòa án cấp sơ thẩm đã không áp dụng quy định này, trong khi đây là nghĩa vụ phải thực hiện ngay cả khi đương sự không yêu cầu, nhằm bảo vệ quyền lợi của người yếu thế.

Trong khi đó:

  • Những người thừa kế theo pháp luật của ông T gồm: bà M (vợ) và chị T (con nuôi);

  • Tuy nhiên, chị T đã thành niên nên không thuộc diện thừa kế bắt buộc;

  • Bà M được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.

3.5 Xác định phần di sản bắt buộc và hiệu lực một phần của di chúc

Tổng di sản của ông T trong khối tài sản chung là 1/2 diện tích đất, tương đương 1.584,85m².

Suất thừa kế theo pháp luật được xác định là:

  • 1.584,85m² : 2 = 792,425m²

  • Phần bà M được hưởng theo diện bắt buộc là: 792,425m² × 2/3 = 528,28m²

Sau khi trích phần này, phần di sản còn lại của ông T là 1.055,92m².

Tuy nhiên, di chúc lại định đoạt 1.200m², vượt quá phần tài sản mà ông T có quyền định đoạt. Do đó:

  • Di chúc chỉ có hiệu lực một phần;

  • Phần vượt quá phải được cắt giảm để đảm bảo quyền lợi của bà M.

Tòa án cấp phúc thẩm đã xử lý theo hướng:

  • Cắt giảm 200m² từ phần di sản được di tặng;

  • Phân bổ lại theo tỷ lệ cho những người được hưởng di chúc;

  • Đảm bảo phần thiếu của người thừa kế bắt buộc được bù đắp từ phần di sản của những người thừa kế theo di chúc.

Cách giải quyết này phù hợp với nguyên tắc:

  • Phần di sản bắt buộc được ưu tiên bảo vệ;

  • Phần thiếu được trích từ di sản mà người thừa kế theo di chúc được hưởng theo tỷ lệ tương ứng.

4. Tổng kết

Vụ án cho thấy một sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc không xác định và áp dụng đúng quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Cụ thể, mặc dù bà M thuộc diện được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định pháp luật, nhưng cấp sơ thẩm lại công nhận toàn bộ nội dung di chúc mà không xem xét quyền lợi này, dẫn đến việc phân chia di sản không chính xác. Trong khi đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã kịp thời khắc phục sai sót bằng cách xác định đúng tư cách của bà M, đồng thời điều chỉnh lại phần di sản được định đoạt trong di chúc theo hướng chỉ công nhận hiệu lực một phần, qua đó đảm bảo sự cân bằng giữa ý chí của người lập di chúc và quyền lợi hợp pháp của người thừa kế bắt buộc.

Từ vụ án này có thể rút ra rằng, trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế, Tòa án không chỉ dừng lại ở việc xem xét hiệu lực hình thức và nội dung của di chúc mà còn phải chủ động rà soát, xác định đầy đủ các chủ thể thuộc diện thừa kế bắt buộc, kể cả khi đương sự không có yêu cầu. Nếu bỏ sót bước này, việc phân chia di sản rất dễ bị sai lệch, làm phát sinh kháng cáo và kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Do đó, việc tuân thủ đúng trình tự, thứ tự phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc là yêu cầu bắt buộc, nhằm đảm bảo tính chính xác của bản án và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp uy tín

Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến thừa kế, di chúc, tranh chấp đất đai hoặc di sản thờ cúng, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn, đưa ra giải pháp pháp lý tối ưu và đồng hành cùng Quý khách trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Liên hệ ngay qua hotline, email hoặc đến trực tiếp văn phòng để được tư vấn chi tiết và bảo mật tuyệt đối. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây