Căn cứ quy định tại Điều 330 BLDS 2015 về ký quỹ như sau:
Điều 330. Ký quỹ
1. Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.
3. Thủ tục gửi và thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật.
⇒ Ký quỹ được định nghĩa là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Các yếu tố cấu thành bắt buộc bao gồm:
⇒ Ký quỹ là biện pháp bảo đảm đối với vật mang tính phái sinh. Việc pháp luật bắt buộc tài sản ký quỹ phải được phong tỏa tại tổ chức tín dụng nhằm triệt tiêu rủi ro tẩu tán tài sản, hao mòn giá trị hoặc các rủi ro đạo đức từ phía bên có nghĩa vụ.
👉 Tham khảo thêm: LUẬT SƯ TƯ VẤN ĐẦU TƯ GIỎI
Trên thực tế, ký quỹ thường bị nhầm lẫn với các biện pháp như đặt cọc hoặc cầm cố tài sản. Việc xác định rõ đặc điểm pháp lý giúp các bên áp dụng đúng quy định của pháp luật.
| Tiêu chí | Ký quỹ (Điều 330) | Đặt cọc (Điều 328) | Cầm cố tài sản (Điều 309) | Ký cược (Điều 329) |
| Mục đích bảo đảm | Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. | Bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. | Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. | Bảo đảm việc trả lại tài sản thuê. |
| Đối tượng tài sản | Tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá. | Tiền, kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác. | Tài sản (động sản). | Tiền, kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác. |
| Chủ thể giữ tài sản | Tổ chức tín dụng (Chủ thể thứ ba độc lập). | Bên nhận đặt cọc (Bên có quyền). | Bên nhận cầm cố hoặc người thứ ba do các bên thỏa thuận. | Bên cho thuê tài sản (Bên có quyền). |
| Hình thức quản lý | Bắt buộc thông qua tài khoản phong tỏa. | Giao nhận trực tiếp, bên nhận cọc giữ sự chiếm hữu. | Giao nhận và nắm giữ sự chiếm hữu thực tế. | Giao nhận trực tiếp, bên cho thuê giữ sự chiếm hữu. |
| Hệ quả khi vi phạm | Tổ chức tín dụng trực tiếp trích xuất tài khoản để thanh toán nghĩa vụ/bồi thường. | Áp dụng chế tài "phạt cọc" (mất cọc hoặc phải trả lại cọc và phạt khoản tiền tương đương). | Xử lý tài sản cầm cố theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật (bán, nhận chính tài sản...). | Xử lý tài sản ký cược để thanh toán tiền thuê hoặc bồi thường thiệt hại tài sản thuê. |
⇒ Nhận xét:
+ Ký quỹ: Đặc trưng là tài sản (tiền, giấy tờ có giá) bắt buộc phải được phong tỏa tại tổ chức tín dụng, cơ chế xử lý tài sản nhanh chóng thông qua trích lục tài khoản.
+ Đặt cọc: Phương thức giao nhận tài sản trực tiếp, mang tính chất phòng ngừa vi phạm thông qua cơ chế phạt nhân đôi tiền cọc theo luật định (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).
+ Cầm cố: Phạm vi áp dụng rộng cho các loại động sản, cấu thành bởi sự chuyển giao chiếm hữu thực tế và đòi hỏi quy trình xử lý tài sản, định giá phức tạp hơn.
+ Ký cược: Biện pháp bảo đảm có không gian áp dụng hẹp, mang tính chuyên biệt dành cho hợp đồng thuê động sản nhằm bảo đảm tình trạng nguyên vẹn của tài sản khi hoàn trả.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 120/2020/TT-BTC về giao dịch ký quỹ như sau:
Điều 9. Giao dịch ký quỹ
1. Nhà đầu tư trước khi thực hiện giao dịch ký quỹ phải ký hợp đồng giao dịch ký quỹ với công ty chứng khoán được phép cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán theo quy định pháp luật. Hợp đồng giao dịch ký quỹ đồng thời là hợp đồng cho các khoản vay trên tài khoản giao dịch ký quỹ. Hợp đồng giao dịch ký quỹ tối thiểu phải bao gồm nội dung về tài sản bảo đảm cho giao dịch ký quý, thời hạn bổ sung ký quỹ, xử lý tài sản bảo đảm cho giao dịch ký quỹ khi nhà đầu tư không bổ sung ký quỹ; phương thức giải quyết khi có tranh chấp phát sinh; nêu rõ các rủi ro, thiệt hại có thể phát sinh và chi phí khách hàng phải thanh toán.
…
⇒ Giao dịch ký quỹ chứng khoán là việc nhà đầu tư vay tiền từ công ty chứng khoán để thực hiện giao dịch mua chứng khoán, sử dụng chính các chứng khoán đã mua hoặc các tài sản hợp pháp khác làm tài sản bảo đảm cho khoản vay. Pháp luật hiện hành quy định nghiêm ngặt về tỷ lệ ký quỹ ban đầu, tỷ lệ ký quỹ duy trì và danh mục chứng khoán được phép giao dịch ký quỹ do Sở Giao dịch Chứng khoán công bố.
⇒ Quy định pháp luật đối với giao dịch ký quỹ chứng khoán chủ yếu hướng tới mục tiêu quản trị rủi ro hệ thống. Việc thiết lập tỷ lệ ký quỹ duy trì và cơ chế gọi ký quỹ bổ sung, bán giải chấp (Margin Call) là nghiệp vụ bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn tài chính cho công ty chứng khoán, đồng thời ngăn chặn các tác động tiêu cực, hiệu ứng dây chuyền khi thị trường chứng khoán suy giảm diện rộng.
- Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán trong các hợp đồng thương mại, đặc biệt là hoạt động đấu thầu và xuất nhập khẩu hàng hóa.
- Luật Các tổ chức tín dụng 2024, pháp luật không đóng khung "ký quỹ" thành một thuật ngữ hay một nghiệp vụ ngân hàng độc lập. Thay vào đó, dòng tiền ký quỹ được quản lý dưới lăng kính là một hình thức “nhận tiền gửi” (Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng 2024), và được tổ chức tín dụng sử dụng làm cơ sở bảo đảm cho hoạt động “cấp tín dụng” (bảo lãnh, thư tín dụng).
- Ngoại lệ: Khoản 2 Điều 15 Luật này có ngoại lệ cho phép các chủ thể không phải tổ chức tín dụng thực hiện “giao dịch ký quỹ” trong hoạt động mua bán lại chứng khoán.
⇒ Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không ban hành một điều luật riêng rẽ để định nghĩa lại “ký quỹ” có thể nhằm mục đích tránh chồng chéo với quy định trong BLDS. Luật chỉ cung cấp khung pháp lý cho hoạt động cấp tín dụng. Tỷ lệ, cách thức và quy trình lập tài khoản ký quỹ sẽ được Ngân hàng Nhà nước cụ thể hóa tại các văn bản dưới luật (Thông tư) cho từng nghiệp vụ chuyên biệt.
- Trong nghiệp vụ bảo lãnh, ký quỹ được sử dụng như một công cụ quản trị rủi ro tín dụng (Credit Risk Mitigation), mang tính bắt buộc đối với một số nhóm khách hàng đặc thù nhằm bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng.
⇒ Ký quỹ được ghi nhận xuyên suốt Thông tư 61/2024/TT-NHNN như một hình thức tài sản bảo đảm.
- Thư tín dụng (L/C) bản chất là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu. Do đó, ngân hàng mở L/C luôn yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm, thông qua việc ký quỹ một tỷ lệ phần trăm trên trị giá L/C.
+ Thông tư 21/2024/TT-NHNN quy định rõ nghĩa vụ thiết lập Thỏa thuận cấp tín dụng trước khi mở L/C, trong đó bắt buộc phải có nội dung về “số tiền, tỷ lệ ký quỹ, tài khoản tiền gửi (nếu có)”. Tương tự nghiệp vụ bảo lãnh, tại khoản 3 Điều 40 Thông tư 21/2024/TT-NHNN, đối với khách hàng là người không cư trú đề nghị ngân hàng hoàn trả thư tín dụng, khách hàng buộc phải “bảo đảm đủ 100% giá trị thư tín dụng bằng tài sản của khách hàng gồm số dư tiền gửi, tiền ký quỹ”.
+ Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) hoàn toàn không có bất kỳ điều khoản nào quy định về việc ký quỹ (margin deposit) của bên mở L/C.
⇒ Việc lầm tưởng UCP 600 có quy định về tỷ lệ ký quỹ là một sai sót khá phổ biến. Cần phân biệt: UCP 600 chỉ điều chỉnh mối quan hệ bề mặt về “chứng từ” và cam kết thanh toán giữa Ngân hàng phát hành và Người thụ hưởng (Beneficiary). Trong khi đó, việc người yêu cầu mở L/C (Applicant) phải ký quỹ bao nhiêu tiền cho Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) là quan hệ tín dụng nội bộ, hoàn toàn chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia (Luật Các tổ chức tín dụng 2024, Thông tư 21/2024/TT-NHNN) và chính sách quản trị rủi ro của từng ngân hàng thương mại.
Nhận xét:
+ Ký quỹ bảo lãnh: Khách hàng nộp một tỷ lệ tiền nhất định vào tài khoản ký quỹ để tổ chức tín dụng phát hành chứng thư bảo lãnh (ví dụ: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng).
+ Ký quỹ L/C: Được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế. Bên nhập khẩu mở tài khoản ký quỹ tại ngân hàng phát hành để đảm bảo năng lực thanh toán cho bên xuất khẩu ngay khi bên xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ theo quy định của thư tín dụng.
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp một khoản tiền theo định mức luật định vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng thương mại được phép hoạt động tại Việt Nam. Quỹ này được thiết lập không nhằm mục đích bảo đảm cho một hợp đồng cụ thể nào, mà nhằm tạo ra một khoản dự phòng tài chính bắt buộc. Mục đích là để cơ quan nhà nước có nguồn lực tài chính khả dụng nhằm giải quyết các nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng, người lao động hoặc đối tác trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm pháp luật, mất khả năng thanh toán, hoặc chấm dứt hoạt động.
⇒ Đây là một công cụ quản lý nhà nước nhằm loại bỏ các doanh nghiệp thiếu tiềm lực tài chính tham gia vào các ngành nghề có rủi ro cao đối với trật tự xã hội và quyền lợi công cộng. Đồng thời, cơ chế này giúp xã hội hóa rủi ro, giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc giải quyết hậu quả do doanh nghiệp gây ra.
Ví dụ: Các pháp nhân kinh doanh dịch vụ lữ hành, xuất khẩu lao động, bán hàng đa cấp, hoặc kinh doanh dịch vụ việc làm buộc phải mở tài khoản ký quỹ tại ngân hàng thương mại. Khoản tiền này bị phong tỏa trong suốt quá trình hoạt động và chỉ được cơ quan có thẩm quyền cho phép giải tỏa để bồi thường thiệt hại, giải quyết các quyền lợi tài chính phát sinh cho khách hàng hoặc người lao động khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, phá sản hoặc vi phạm nghĩa vụ pháp lý.
⇒ Việc duy trì một khoản vốn bắt buộc tại ngân hàng nhằm đáp ứng điều kiện cấp phép hoạt động đối với các ngành nghề tiềm ẩn rủi ro dân sự cao.
- Ký quỹ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ căn cứ theo pháp luật dân sự, đạt độ an toàn cao do tài sản bảo đảm được phong tỏa và quản lý tại tổ chức tín dụng.
- Giao dịch ký quỹ chứng khoán là hoạt động cấp tín dụng mua chứng khoán, bị điều chỉnh nghiêm ngặt bởi hệ thống pháp luật chứng khoán nhằm kiểm soát rủi ro tài chính.
- Ký quỹ thương mại (Thư tín dụng L/C, bảo lãnh ngân hàng) là cơ chế pháp lý giúp giảm trừ rủi ro thanh toán dựa trên nguyên tắc chứng từ độc lập.
- Ký quỹ điều kiện kinh doanh là nghĩa vụ tài chính bắt buộc theo pháp luật đầu tư và luật chuyên ngành, đóng vai trò như công cụ dự phòng nhằm bảo vệ trật tự quản lý nhà nước và lợi ích công cộng.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư Doanh nghiệp giỏi
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Giao dịch ký quỹ và các hoạt động ký quỹ nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề cập nhật pháp lý Giao dịch ký quỹ và các hoạt động ký quỹ chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội