Quyền và nghĩa vụ các bên trong xử lý tài sản bảo đảm

Thứ tư - 13/05/2026 22:42
Xử lý tài sản bảo đảm là giai đoạn nhạy cảm và dễ phát sinh tranh chấp nhất trong các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong hoạt động vay vốn ngân hàng (cầm cố, thế chấp). Khi bên có nghĩa vụ không thể trả nợ, việc xử lý tài sản là tất yếu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ. Bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Tô Đình Huy sẽ phân tích về vấn đề này.
Quyền và nghĩa vụ các bên trong xử lý tài sản bảo đảm
Quyền và nghĩa vụ các bên trong xử lý tài sản bảo đảm
Mục lục

1. Khi nào tài sản bảo đảm bị đem ra xử lý?

Căn cứ quy định tại Điều 299 BLDS 2015 về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Theo quy định trên, bên nhận bảo đảm (thường là chủ nợ, ngân hàng) có quyền xử lý tài sản bảo đảm trong các trường hợp sau đây:

• Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

• Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

• Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

👉 Tham khảo thêm: Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp

2. Quyền và nghĩa vụ của Bên nhận bảo đảm

- Bên nhận bảo đảm (hay chủ nợ) là bên có quyền lợi trực tiếp từ việc thu hồi khoản nợ. Pháp luật trao cho họ những quyền hạn nhất định nhưng cũng đi kèm với các nghĩa vụ bắt buộc để đảm bảo tính minh bạch.

2.1 Quyền của Bên nhận bảo đảm

- Quyền yêu cầu giao tài sản để xử lý

Căn cứ quy định tại Điều 301 BLDS 2015 về giao tài sản bảo đảm để xử lý như sau:

Điều 301. Giao tài sản bảo đảm để xử lý

Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.

Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Người đang giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Nếu người này không giao, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, quy định chi tiết hơn về việc thu giữ tài sản được hướng dẫn tại Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.

- Quyền quyết định phương thức xử lý theo thỏa thuận

Căn cứ quy định tại Điều 303 BLDS 2015 về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như sau:

Điều 303. Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:

a) Bán đấu giá tài sản;

b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

d) Phương thức khác.

2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản theo các phương thức đã thỏa thuận (bán đấu giá, tự bán, nhận chính tài sản...). Nếu không có thỏa thuận, tài sản được bán đấu giá theo khoản 2 Điều 303 BLDS 2015.

- Quyền ưu tiên thanh toán

Căn cứ quy định tại Điều 308 BLDS 2015 về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm như sau:

Điều 308. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm

1. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau:

a) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;

b) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;

c) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.

2. Thứ tự ưu tiên thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền

Đồng thời, căn cứ vào khoản 1 Điều 307 BLDS 2015 về thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như sau:

Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

1. Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 của Bộ luật này.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản... được thanh toán ưu tiên cho bên chủ nợ.

- Quyền yêu cầu thanh toán phần nợ còn thiếu

Căn cứ vào khoản 3 Điều 307 BLDS 2015 về thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như sau:

Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

[…] 3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nghĩa vụ thì phần nghĩa vụ chưa thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm; các bên thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm hoặc bên chủ nợ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ (con nợ) phải dùng tài sản khác để tiếp tục thanh toán.

2.2 Nghĩa vụ của Bên nhận bảo đảm

- Nghĩa vụ thông báo trước khi xử lý tài sản bảo đảm

Căn cứ vào Điều 300 BLDS 2015 về thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm như sau:

Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm

1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.

Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.

2. Trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác.

Theo quy định trên, trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác. Nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì bên nhận bảo đảm phải bồi thường.

- Nghĩa vụ định giá tài sản quan trong trường hợp tự xử lý

Căn cứ vào Điều 306 BLDS 2015 về định giá tài sản bảo đảm như sau:

Điều 306. Định giá tài sản bảo đảm

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.

Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.

2. Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.

3. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm.

Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản hoặc định giá thông qua tổ chức thẩm định giá. Nếu tự định giá mà vi phạm nguyên tắc khách quan, gây thiệt hại cho bên bảo đảm thì phải bồi thường.

- Nghĩa vụ hoàn trả

Căn cứ vào khoản 2 Điều 307 BLDS 2015 về thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như sau:

Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

[…] 2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản... lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch (tiền thừa) phải được trả cho bên bảo đảm.

3. Quyền và nghĩa vụ của Bên bảo đảm

Bên bảo đảm (có thể là người đi vay hoặc bên thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm cho người đi vay) vẫn giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi tài sản bị xử lý xong. Do đó, họ cũng có những quyền và nghĩa vụ tương xứng.

3.1 Quyền của Bên bảo đảm

- Quyền được nhận thông báo trước khi xử lý tài sản

Căn cứ vào khoản 1 Điều 300 BLDS 2015 về thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm như sau:

Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm

1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác

Bên bảo đảm có quyền được nhận thông báo bằng văn bản từ bên nhận bảo đảm trong một thời hạn hợp lý trước khi tài sản bị đem ra xử lý.

- Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 300 BLDS 2015 và Điều 306 BLDS 2015 nếu bên chủ nợ không thông báo việc xử lý tài sản, hoặc tự định giá tài sản không khách quan (bán quá rẻ so với thị trường) mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, thì bên bảo đảm có quyền yêu cầu bồi thường.

- Quyền nhận lại tài sản

+ Căn cứ vào khoản 2 Điều 307 BLDS 2015, trường hợp số tiền bán tài sản lớn hơn nghĩa vụ trả nợ và các chi phí xử lý phát sinh, bên bảo đảm có quyền nhận lại toàn bộ số tiền chênh lệch này.

+ Căn cứ Điều 315 BLDS 2015 về chấm dứt cầm cố như sau:

Điều 315. Chấm dứt cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.

2. Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

3. Tài sản cầm cố đã được xử lý.

4. Theo thỏa thuận của các bên.

Và và Điều 327 BLDS 2015 về chấm dứt thế chấp như sau:

Điều 327. Chấm dứt thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.

2. Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

3. Tài sản thế chấp đã được xử lý.

4. Theo thỏa thuận của các bên.

Bất cứ lúc nào trước khi tài sản bị xử lý (ví dụ: trước khi gõ búa bán đấu giá), nếu bên bảo đảm lo đủ tiền để trả toàn bộ nợ gốc, lãi và chi phí phát sinh, biện pháp bảo đảm sẽ chấm dứt và họ có quyền nhận lại tài sản của mình.

3.2 Nghĩa vụ của Bên bảo đảm

- Nghĩa vụ giao tài sản để xử lý

Căn cứ vào Điều 301 BLDS 2015 về giao tài sản bảo đảm để xử lý như sau:

Điều 301. Giao tài sản bảo đảm để xử lý

Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.

Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Người đang giữ tài sản (bao gồm cả bên bảo đảm) có nghĩa vụ phải giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Nếu cố tình chống đối, không giao tài sản, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ tiếp tục thanh toán phần nợ còn thiếu

Căn cứ khoản 3 Điều 307 BLDS 2015, trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ để trả hết nợ (gốc, lãi, phạt vi phạm, chi phí xử lý...), bên bảo đảm vẫn chưa hết trách nhiệm. Nghĩa vụ trả nợ phần thiếu hụt trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm, và bên bảo đảm phải tiếp tục dùng các tài sản khác của mình để trả nợ (trừ khi có thỏa thuận khác).

4. Những lưu ý quan trọng trong quá trinh xử lý tài sản

Để quá trình xử lý tài sản diễn ra suôn sẻ và hợp pháp, cả hai bên cần lưu ý các nguyên tắc sau:

1. Tôn trọng sự thỏa thuận: Các phương thức xử lý tài sản, giá bán, người mua... nếu được các bên thống nhất bằng văn bản sẽ là cơ sở giải quyết ưu tiên hàng đầu.

2. Định giá tài sản khách quan: Việc định giá tài sản phải đảm bảo tính khách quan, phù hợp với giá thị trường tại thời điểm xử lý. Các bên có thể tự thỏa thuận về giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá độc lập để tránh tranh chấp “bán rẻ” tài sản.

3. Chi phí xử lý tài sản: Các chi phí phát sinh hợp lý trong quá trình bảo quản, định giá, bán đấu giá tài sản sẽ được trừ trực tiếp vào số tiền thu được từ việc bán tài sản đó.

Tóm lại, việc xử lý tài sản bảo đảm là một quy trình pháp lý. Hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình không chỉ giúp bên nhận bảo đảm thu hồi nợ nhanh chóng, đúng luật mà còn giúp bên bảo đảm bảo vệ tối đa khối tài sản và quyền lợi chính đáng của mình trước những rủi ro pháp lý.

Lưu ý: Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo chung. Tùy thuộc vào từng loại tài sản (bất động sản, động sản, quyền tài sản) và từng thời điểm, các quy định pháp luật chi tiết có thể được áp dụng khác nhau. Để được tư vấn cụ thể cho trường hợp của mình, quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với các Luật sư của chúng tôi – Văn phòng luật sư Tô Đình Huy.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư Doanh nghiệp giỏi

Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề cập nhật pháp lý Quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

 

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây