Trong các tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất, thời hiệu khởi kiện là vấn đề quan trọng nhưng thường bị bỏ qua. Nhiều trường hợp có căn cứ yêu cầu hợp pháp nhưng do khởi kiện quá muộn hoặc xác định sai thời điểm phát sinh tranh chấp nên ảnh hưởng đến quyền lợi của mình. Bài viết dưới đây của Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy sẽ phân tích quy định về vấn đề này.
Căn cứ theo Điều 500 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định:
Hợp đồng về quyền sử dụng đất
Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”
Từ quy định trên có thể thấy rằng, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất bao gồm nhiều loại khác nhau như: hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Mặc dù các hợp đồng này đều có chung đối tượng là quyền sử dụng đất, nhưng nội dung, mục đích và quyền, nghĩa vụ của các bên trong từng loại hợp đồng lại có sự khác biệt rõ rệt.
Thời hiệu liên quan đến hợp đồng về quyền sử dụng đất chủ yếu là thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng. Theo 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu này được xác định như sau:
Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Từ quy định trên, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Ngày 30/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đã ban hành Hướng dẫn 13/HD-VKSTC hướng dẫn một số nội dung cơ bản trong việc giải quyết các vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Hướng dẫn nêu rõ, một số lưu ý về yêu cầu của tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng về quyền sử dụng đất như sau:
Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được giao kết từ ngày 01/01/2017 đến nay mà có yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (theo Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015), cần phân biệt:
- Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện; hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; hợp đồng do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02 năm kể từ một trong các thời điểm sau:
- Hợp đồng, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu không bị hạn chế. Vi phạm điều cấm của luật là vi phạm những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu.
👉 Tham khảo thêm: Văn phòng Luật sư chuyên về đất đai tại Thành phố Hồ Chí Minh
Lưu ý:
Thứ nhất, đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (HĐDS) năm 1991, bao gồm:
Thứ hai, đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm:
Thứ ba, đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được giao kết từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2006 mà có yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu thì áp dụng các quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2005 về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Thứ tư, đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được giao kết từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017 mà có yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu cần phân biệt:
- Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01/7/1996 (ngày Bộ luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu:
Phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật đó để xác định thời hiệu còn hay hết, không phân biệt giao dịch dân sự đó được thực hiện xong trước ngày 01/7/1996 hay từ ngày 01/7/1996. Trường hợp từ ngày 01/7/1996, các bên tham gia giao dịch dân sự có thoả thuận bổ sung thì cần phân biệt như sau:
- Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2005 mà Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác không quy định thời hiệu khởi kiện:
- Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 01/01/2005 mà Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản pháp luật khác không quy định thời hiệu khởi kiện:
Thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.
👉 Tham khảo thêm: Dịch vụ soạn thảo hợp đồng
Sự khác biệt giữa hai loại tranh chấp được thể hiện rõ thông qua các tiêu chí cụ thể sau đây:
| Tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất |
Tranh chấp về quyền sử dụng đất |
|
|
Khái niệm |
Tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất là tranh chấp phát sinh từ việc các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. |
Tranh chấp về quyền sử dụng đất là tranh chấp phát sinh nhằm xác định chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp |
|
Thời hiệu |
03 năm từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. |
Không áp dụng thời hiệu |
|
Các dạng tranh chấp |
- Không thanh toán tiền theo hợp đồng chuyển nhượng. |
- Tranh chấp ranh giới đất |
|
Quyền và nghĩa vụ các bên |
Dựa vào nội dung hợp đồng và sự thỏa thuận của các bên |
Dựa vào pháp luật và chứng cứ về quyền sử dụng đất |
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Thời hiệu khởi kiện hợp đồng về quyền sử dụng đất nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Thời hiệu khởi kiện hợp đồng về quyền sử dụng đất quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Chúng tôi trên mạng xã hội