Tranh chấp di sản thừa kế: mâu thuẫn thừa kế theo di chúc và pháp luật

Thứ ba - 17/03/2026 23:16
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, di sản dùng vào việc thờ cúng là một chế định pháp lý đặc thù nhưng lại thường bị hiểu sai hoặc áp dụng chưa thống nhất. Bài viết dưới đây của Văn phònh luật sư Tô Đình Huy sẽ phân tích thực tiễn xét xử, nhằm làm rõ bản chất của di sản thờ cúng và cách áp dụng đúng trong các tranh chấp thừa kế.
tranh chấp di sản thờ cúng mâu thuẫn thừa kế theo di chúc và pháp luật
tranh chấp di sản thờ cúng mâu thuẫn thừa kế theo di chúc và pháp luật
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp liên quan đến di sản thừa cúng

- Vụ việc tranh chấp được phân tích dựa trên Bản án 122/2019/DS-PT ngày 04/07/2019 về “tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc” của Toà án nhân dân tỉnh An Giang giữa nguyên đơn là ông Lê Nhựt T, bà Lê Thị Cẩm V với bị đơn là ông Lê Nhựt L. Ông Lê Nhựt T và ông Lê Nhựt L là hai anh em ruột.

- Vụ án miêu tả tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc giữa người thừa kế theo di chúc với người thừa kế theo pháp luật về di sản thờ cúng đã được định đoạt trong di chúc hợp pháp và có phần thất hiệu (phần không thất hiệu chính là phần định đoạt về di sản thờ cúng phát sinh hiệu lực pháp luật và được thi hành). Ở vụ án này, Tòa án ở cả hai cấp đã áp dụng chính xác các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc để xác định hiệu lực của phần di sản còn lại trong khối di sản sau khi tặng cho hợp pháp một phần di sản của người để lại di sản, ghi nhận quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo di chúc đối với phần di sản này.

2. Tóm tắt nội dung bản án

- Cha là cụ Lê Nhựt Đăng, sinh năm 1920, chết năm 2012 và mẹ là cụ Trần Thị Dươn, sinh năm 1930, chết năm 2009, có 09 người con: Lê Nhựt T1, Lê Nhựt T2, Lê Kim P1, Lê Nhựt Khai (chết năm 1997, có vợ là Quách Thị Vĩnh Thanh (đã có chồng khác) và 02 con: Lê Vĩnh T3, Lê Nhựt K), Lê Nhựt H, Lê Thị Mỹ N, Lê Nhựt L, Lê Nhựt T, Lê Nhựt H1.

- Ngày 02/4/2004, cụ Đăng và cụ Dươn lập tờ di chúc hợp pháp dành một phần tài sản trong khối di sản cho ông T dùng vào việc thờ cúng. Vào thời điểm lập di chúc ngày 02/4/2004, cụ Đăng và cụ Dươn chưa được cấp quyền sử dụng đất. Ngày 21/12/2006, cụ Đăng và cụ Dươn được cấp quyền sử dụng diện tích 3.823,8m2 đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Ngày 24/9/2008, cụ Đăng và cụ Dươn có lập hợp đồng tặng cho vợ chồng ông T diện tích 3.606,1m2 đất thổ cư và vườn tạp (trong diện tích 3.823,8m2 đất), vợ chồng ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/3/2009 và sử dụng đất ổn định đến nay.

- Sau khi cụ Đăng và cụ Dươn chết, vợ chồng ông T quản lý, sử dụng nhà chính; Vợ chồng ông Lê Nhựt L (ông L), bà Nguyễn Thị Kim M cùng 02 con là anh Lê Quốc P và anh Lê Phú C đang quản lý, sử dụng nhà bếp.

- Ông T yêu cầu được hưởng thừa kế căn nhà theo di chúc ngày 02/4/2004 của cụ Đăng và cụ Dươn. Yêu cầu ông L, bà M, anh P, anh C có trách nhiệm trả nhà bếp diện tích 59,4m2 để ông quản lý, sử dụng theo di chúc ngày 02/4/2004 và trả lại diện tích đất 59,4m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông, bà đứng tên.

- Bản án dân sự sơ thẩm số: 143/2018/DS-ST ngày 11/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà V; Tuyên bố tờ Di chúc ngày 02/4/2004 của cụ Đăng và cụ Dươn hợp pháp và có hiệu lực pháp luật một phần; Ông T được quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng là căn nhà diện tích 272,2m2; Buộc ông L, bà M, anh P, anh C có trách nhiệm di dời các tài sản trong nhà, có trách nhiệm trả cho ông T, bà V diện tích 59,4m2 đất ở nông thôn theo

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/3/2009 cấp cho ông T và bà V và có trách nhiệm giao căn nhà diện tích 59,4m2 cho ông T quản lý dùng vào việc thờ cúng.

- Bản án dân sự phúc thẩm số: 122/2019/DS-PT ngày 04/07/2019 về “Tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc” của Toà án nhân dân tỉnh An Giang tuyên xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

Tham khảo thêm: Dịch vụ khai nhận di sản thừa kế

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp liên quan đến di sản thờ cúng

- Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, một trong những vấn đề phổ biến nhưng gây nhiều tranh cãi là: di chúc có còn hiệu lực hay không khi tài sản đã được tặng cho trước khi người lập di chúc chết.

- Xác định các vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp di sản thờ cúng giữa người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật:

Thứ nhất, hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đăng, cụ Dươn với ông T, bà V được xác lập hợp pháp vào ngày 24/9/2008 và đã hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên vào ngày 09/3/2009.

Theo quy định pháp luật dân sự:

• Hợp đồng tặng cho có hiệu lực làm chấm dứt quyền sở hữu của bên tặng cho

• Đồng thời làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp của bên nhận tặng cho

Do đó, kể từ thời điểm hoàn tất đăng ký, diện tích 3.606,1m² không còn thuộc quyền sở hữu của cụ Đăng và cụ Dươn.

Thứ hai, tài sản không còn thuộc di sản thừa kế

Theo nguyên tắc của pháp luật thừa kế: Di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản thuộc sở hữu của người chết tại thời điểm mở thừa kế

Trong vụ việc này:

• Năm 2012 (thời điểm cụ Đăng chết), phần đất 3.606,1m² đã được tặng cho hợp pháp trước đó

• Vì vậy, phần đất này không được tính vào khối di sản thừa kế

Đây là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi hiệu lực của di chúc.

Thứ ba, hiệu lực của di chúc đối với tài sản đã tặng cho

Mặc dù di chúc được lập từ năm 2004, nhưng sau đó người lập di chúc đã thực hiện quyền định đoạt tài sản thông qua việc tặng cho.

Theo nguyên tắc:

• Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản khi còn sống

• Việc chuyển nhượng, tặng cho sau đó sẽ làm mất hiệu lực phần di chúc liên quan đến tài sản đó

Do đó:

• Di chúc ngày 02/4/2004 không còn hiệu lực đối với diện tích 3.606,1m²

• Lý do: tài sản này không còn tồn tại trong khối di sản tại thời điểm mở thừa kế

Quy định này cũng phù hợp với khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 về hiệu lực từng phần của di chúc.

Thứ tư, hiệu lực còn lại của di chúc đối với tài sản thờ cúng

Sau khi tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản còn lại của cụ Đăng và cụ Dươn chỉ còn: Căn nhà diện tích 272,2m²

Trong di chúc, hai cụ đã:

• Chỉ định căn nhà này dùng vào việc thờ cúng

• Giao ông T là người quản lý, gìn giữ

Do đó:

• Di chúc vẫn có hiệu lực đối với phần tài sản còn lại

• Căn nhà trở thành di sản dùng vào việc thờ cúng

Thứ năm, quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản thờ cúng

Theo nội dung di chúc và quy định pháp luật, ông T có các quyền và nghĩa vụ sau:

Quyền:

• Quản lý, trông coi tài sản thờ cúng

• Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (nếu có)

Nghĩa vụ:

• Gìn giữ tài sản

• Thực hiện việc thờ cúng theo ý chí của người để lại di sản

Hạn chế:

• Không có quyền định đoạt tài sản

• Không được sử dụng tài sản vào mục đích khác ngoài thờ cúng

Đặc biệt, cần lưu ý:

• Di sản thờ cúng không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế nào

• Người được chỉ định (ông T) chỉ có quyền quản lý, không có quyền sở hữu

- Phán quyết của Toà án:

• Xác định đúng hiệu lực của hợp đồng tặng cho

• Loại trừ chính xác phần tài sản đã tặng cho khỏi khối di sản

• Áp dụng đúng quy định về hiệu lực từng phần của di chúc

• Công nhận vai trò của người quản lý di sản thờ cúng

Qua đó, có thể thấy rằng:

• Quyền và nghĩa vụ của ông T được xác định rõ ràng

• Ý chí của người lập di chúc được tôn trọng và bảo đảm thực thi

4. Tổng kết

Từ vụ việc trên, qua phân tích nội dung vụ án cũng như các quy định hiện hành của pháp luật liên quan đến chế định thừa kế, có thể rút ra các ý chính sau đây:

- Di chúc chỉ có hiệu lực đối với tài sản còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế

- Việc tặng cho, chuyển nhượng tài sản hợp pháp sẽ làm mất hiệu lực phần di chúc liên quan

- Di chúc có thể có hiệu lực từng phần

- Di sản dùng vào việc thờ cúng là loại tài sản đặc biệt:

• Không chia thừa kế

• Không thuộc quyền sở hữu của người quản lý

Tham khảo thêm: Dịch vụ làm di chúc về nhà đất

Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến thừa kế, di chúc, tranh chấp đất đai hoặc di sản thờ cúng, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn, đưa ra giải pháp pháp lý tối ưu và đồng hành cùng Quý khách trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Liên hệ ngay qua hotline, email hoặc đến trực tiếp văn phòng để được tư vấn chi tiết và bảo mật tuyệt đối. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây