- Bản án 198/2019/DS-PT ngày 27/5/2019 về “tranh chấp quyền quản lý di sản thờ cúng” của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1959 với bị đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1965. Nguyên đơn và bị đơn là chị em ruột.
- Vụ án miêu tả tranh chấp giữa người quản lý di sản thờ cúng do những người thừa kế thoả thuận cử ra và ngừoi thừa kế đang thực tế quản lý, sử dụng di sản thờ cúng. Quan điểm của hai cấp xét xử lại ra hai nhận định hoàn toàn trái ngược nhau về quyền quản lý di sản thờ cúng. Điều này xuất phát từ lý do Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết còn gặp nhiều vướng mắc, lúng túng và dẫn đến sai sót, đã áp dụng sai quy định của luật về di sản dùng vào việc thờ cúng, đồng thời cũng không căn cứ vào thoả thuận của những người thừa kế để giải quyết. Sai phạm trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm đã dẫn tới tranh chấp về thừa kế theo di chúc có liên quan đến quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng bị kéo dài gần 10 năm.
Tham khảo thêm: Luật sư giỏi về giải quyết tranh chấp đất đai
- Ông Dương P (mất năm 1998) và bà Huỳnh Thị O (mất năm 1999) có 13 người con, trong đó có bà Dương Thị H (nguyên đơn), ông Dương Văn T (bị đơn) và ông Dương Hùng Ch (được chỉ định quản lý di sản thờ cúng theo di chúc). Trước khi qua đời, hai cụ lập di chúc để lại căn nhà và phần đất làm nơi thờ cúng, không được phép chuyển nhượng, đồng thời giao cho ông Ch quản lý. Tuy nhiên, do ông Ch sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh nên không trực tiếp quản lý mà để vợ chồng ông Dương Văn T cùng các con sử dụng, trông coi.
- Đến ngày 07/11/2011, 8 người con trong gia đình đã lập văn bản thỏa thuận cử bà Dương Thị H làm người quản lý di sản thờ cúng; 4 người còn lại cũng đồng ý với việc này. Mặc dù vậy, ông Dương Văn T – người đang trực tiếp ở trong nhà – không chấp nhận, ngăn cản các anh chị em vào thực hiện việc thờ cúng và cho rằng căn nhà thuộc quyền của mình. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T cùng vợ và các con giao lại căn nhà, đất để bà quản lý theo đúng mục đích thờ cúng.
- Tại bản án sơ thẩm số 47/2018/DS-ST ngày 31/8/2018 của TAND tỉnh Sóc Trăng, Tòa không chấp nhận yêu cầu của bà H, đồng thời xác định các đồng thừa kế đều có quyền thực hiện việc thờ cúng tại căn nhà, không ai được cản trở.
- Sau đó, tại bản án phúc thẩm số 198/2019/DS-PT ngày 27/5/2019 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, Tòa đã chấp nhận kháng cáo của bà H và những người liên quan, cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát; sửa bản án sơ thẩm và buộc vợ chồng ông T cùng các con phải giao lại nguyên trạng căn nhà, đất cho ông Dương Hùng Ch hoặc bà Dương Thị H đại diện nhận để quản lý phục vụ việc thờ cúng.
Trong vụ việc, ông Dương P và bà Huỳnh Thị O trước khi qua đời đã lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà và đất làm nơi thờ cúng, đồng thời chỉ định ông Dương Hùng Ch là người quản lý. Nội dung di chúc cũng thể hiện rõ ý chí: tài sản này không được bán, không được chia thừa kế, mà chỉ phục vụ mục đích thờ cúng tổ tiên.
Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là: tất cả các đương sự đều thừa nhận di chúc này hợp pháp. Điều này có ý nghĩa pháp lý rất lớn, bởi khi di chúc hợp pháp thì:
• Ý chí của người để lại di sản phải được tôn trọng tuyệt đối;
• Việc sử dụng tài sản phải đúng mục đích đã được xác lập;
• Không phát sinh quyền chia thừa kế đối với phần tài sản này.
Như vậy, di sản trong vụ án không còn là tài sản để phân chia, mà là tài sản chung hợp nhất phục vụ thờ cúng, không thuộc quyền sở hữu riêng của bất kỳ cá nhân nào, kể cả người được chỉ định quản lý.
3.1 Di sản thờ cúng không được chia thừa kế
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất. Khi người lập di chúc đã xác định rõ tài sản dùng vào việc thờ cúng, thì:
• Không ai có quyền yêu cầu chia;
• Không ai được xác lập quyền sở hữu riêng;
• Tài sản tồn tại nhằm phục vụ lợi ích tinh thần chung của gia đình.
3.2 Người quản lý chỉ có quyền quản lý, không có quyền sở hữu
Người được chỉ định quản lý (trong vụ án là ông Dương Hùng Ch) chỉ có các quyền:
• Trông coi tài sản;
• Sử dụng tài sản đúng mục đích thờ cúng;
• Bảo đảm việc thờ cúng diễn ra bình thường.
Họ không có quyền định đoạt như bán, cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng.
3.3 Phán quyết của Toà án
- Toà án cấp sơ thẩm làm rõ rằng:
• Tài sản không thuộc quyền sở hữu của ông Dương Văn T;
• Việc ông T chiếm giữ và ngăn cản người khác là trái với mục đích di chúc.
Việc cho phép ông T tiếp tục quản lý thực tế đã gián tiếp “hợp thức hóa” hành vi sử dụng tài sản không đúng ý chí người lập di chúc.
- Toà án cấp phúc thẩm đã ra phán quyết:
• 12/13 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã đồng ý giao quyền quản lý cho bà H;
• Việc này được thể hiện bằng văn bản hợp pháp.
Theo quy định pháp luật, đây là ý chí tập thể có giá trị pháp lý cao. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại không xem xét đầy đủ yếu tố này khi ra phán quyết.
- Căn cứ quy định tại Điều 645 BLDS 2015 quy định về di sản thừa cúng như sau:
Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
- Từ sự khác biệt trong nhận định giữa hai cấp xét xử, có thể thấy nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng chưa đúng quy định pháp luật về di sản thờ cúng và không đánh giá đầy đủ thỏa thuận của các đồng thừa kế.
Vụ án là minh chứng điển hình cho thấy:
• Việc tôn trọng ý chí của người lập di chúc là nguyên tắc cốt lõi trong giải quyết tranh chấp thừa kế;
• Di sản thờ cúng có tính chất đặc thù, không được chia và không thuộc quyền sở hữu riêng;
• Thỏa thuận của các đồng thừa kế có giá trị pháp lý quan trọng trong việc xác định người quản lý di sản;
• Việc áp dụng sai pháp luật có thể dẫn đến tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên và làm phát sinh mâu thuẫn trong gia đình.
Tham khảo thêm: Tư vấn kháng cáo tranh chấp thừa kế nhà đất
Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến thừa kế, di chúc, tranh chấp đất đai hoặc hợp đồng tặng cho, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn, đưa ra giải pháp pháp lý tối ưu và đồng hành cùng Quý khách trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Liên hệ ngay qua hotline, email hoặc đến trực tiếp văn phòng để được tư vấn chi tiết và bảo mật tuyệt đối. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Chúng tôi trên mạng xã hội