Tranh chấp di sản thừa kế: hiệu lực di chúc chung giữa vợ, chồng

Thứ ba - 24/03/2026 00:40
Trong thực tiễn đời sống và xét xử, tranh chấp liên quan đến tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng sau khi một bên qua đời là việc phổ biến và thường phức tạp. Văn phòng luật sư Tô Đình Huy sẽ đưa ra một tình huống pháp lý thực tế và dựa trên đó sẽ tiến hành phân tích dựa theo các quy định pháp luật hiện hành.
Tranh chấp hiệu lực di chúc chung giữa vợ, chồng
Tranh chấp hiệu lực di chúc chung giữa vợ, chồng
Mục lục

1. Khái quát về vụ việc tranh chấp tài sản thừa kế

- Bản án 157/2020/ DS-PT ngày 26/08/2020 về “Tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế” của TAND cấp cao tại Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Đỗ Thị L, sinh năm 1937 với bị đơn là anh Trần Minh Đ, sinh năm 1978, là con trai bà Đỗ Thị L. Anh Đ cũng chính là người kháng cáo.

- Vụ án tranh chấp giữa người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật về điều kiện di chúc phát sinh hiệu lực (di chúc chung của vợ, chồng) và di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng. Vụ án này cũng cho thấy ưu, nhược điểm của quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng theo quy định của BLDS 2005 và BLDS 2015.

Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp uy tín

2. Tóm tắt nội dung bản án

- Vợ chồng bà Đỗ Thị L và ông Trần Trọng Đ trong thời kỳ hôn nhân đã tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và nhà ở có diện tích 261,16m², đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ngày 16/11/2004, đứng tên cả hai vợ chồng. Hai ông bà có 07 người con gồm các anh/chị: Đ, Đ1, L1, L2, L3, Th và L4.

- Ngày 20/01/2006, bà L và ông Đ cùng lập di chúc chung của vợ chồng nhằm định đoạt toàn bộ khối tài sản chung cho các con. Theo nội dung di chúc, anh Trần Minh Đ được phân chia cụ thể gồm 20,3m² đất ở, 23,6m² đất vườn và được quyền quản lý 5,74m² đất thuộc hành lang bảo vệ mương. Di chúc được xác định là lập hợp pháp. Tuy nhiên, đến ngày 16/02/2006, ông Đ qua đời, sau đó anh Đ là người trực tiếp quản lý và sử dụng toàn bộ nhà đất nêu trên.

- Đến năm 2016, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản theo nội dung di chúc chung ngày 20/01/2006. Sau đó, bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị chia đôi khối tài sản chung vợ chồng theo quy định pháp luật và rút yêu cầu liên quan đến việc phân chia di sản theo di chúc. Đáng chú ý, ngày 02/03/2018, bà L tiếp tục lập di chúc mới nhằm định đoạt lại phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung và không để lại cho các con.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Minh Đ yêu cầu các bên liên quan chứng minh giá trị pháp lý của di chúc chung năm 2006, đồng thời đề nghị được tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất làm nơi thờ cúng do đã có công duy trì, tôn tạo tài sản sau khi ông Đ qua đời. Bên cạnh đó, chị Trần Thị L3 có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án chia phần di sản của ông Đ cho các đồng thừa kế theo quy định pháp luật, đồng thời đề xuất phương án phân chia hiện vật và giao tài sản cho anh Đ1 quản lý, sử dụng.

- Tại Bản án sơ thẩm số 62/2019/DS-ST ngày 13/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định di chúc chung của vợ chồng lập ngày 20/01/2006 không phát sinh hiệu lực, từ đó chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của bà L và yêu cầu chia di sản thừa kế của các đồng thừa kế.

- Tại Bản án số 157/2020/DS-PT ngày 26/08/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử xác định di chúc chung năm 2006 được công chứng hợp pháp nhưng không còn hiệu lực do bà L đã lập di chúc mới vào năm 2018 thay đổi nội dung định đoạt tài sản. Tòa án chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà L, theo đó bà được hưởng 1/2 giá trị khối tài sản chung sau khi trừ phần công sức duy trì, tôn tạo của anh Đ; đồng thời chấp nhận yêu cầu chia di sản của ông Đ cho các đồng thừa kế và phương án phân chia tài sản bằng hiện vật phù hợp với điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp tài sản thừa kế

Vụ án là một ví dụ điển hình về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng gắn liền với phân chia di sản thừa kế, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến hiệu lực của di chúc chung vợ chồng và quyền định đoạt tài sản của người còn sống.

3.1 Hiệu lực di chúc chung khi một bên vợ/chồng chết trước

- Trong thực tiễn, việc vợ chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt khối tài sản chung là khá phổ biến. Tuy nhiên, khi một bên chết trước, vấn đề xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung trở nên đặc biệt phức tạp và là nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp.

- Theo quy định tại Điều 668 Bộ luật Dân sự 2005, di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực trong hai trường hợp:

(i) thời điểm người sau cùng chết

(ii) thời điểm vợ chồng cùng chết.

Quy định này về mặt kỹ thuật pháp lý giúp đơn giản hóa việc phân chia di sản do chỉ thực hiện một lần, nhưng lại không phù hợp với bản chất của quan hệ thừa kế.

3.2 Bất cập của quy định tại Điều 668 BLDS 2005

Việc xác định hiệu lực di chúc chung tại thời điểm người sau cùng chết đã dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý không hợp lý:

• Mâu thuẫn với nguyên tắc mở thừa kế: Theo quy định chung, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết. Tuy nhiên, di chúc chung lại “treo hiệu lực” đến khi người còn lại chết, làm trì hoãn quyền thừa kế hợp pháp.

• Hạn chế quyền của người thừa kế: Người được chỉ định trong di chúc không thể yêu cầu chia di sản của người chết trước; người thừa kế bắt buộc cũng không thể thực hiện quyền của mình.

• Gây khó khăn trong xác định di sản: Giá trị, phạm vi di sản có thể biến động theo thời gian, dẫn đến khó khăn trong việc xác định tài sản thực tế.

• Xung đột với quyền định đoạt tài sản của người còn sống: Người còn sống không thể chủ động phân chia hoặc định đoạt phần tài sản của mình dù có nhu cầu chính đáng.

• Phát sinh tranh chấp trong thực tiễn: Đặc biệt trong trường hợp tồn tại nhiều di chúc khác nhau hoặc có sự thay đổi ý chí của người còn sống.

Những bất cập này cho thấy quy định tại Điều 668 BLDS 2005 không chỉ thiếu tính khả thi mà còn làm phát sinh xung đột lợi ích giữa các chủ thể liên quan.

3.3 Phán quyết của Toà án

Tại thời điểm bà L khởi kiện, di chúc chung lập ngày 20/01/2006 giữa bà L và ông Đ chưa phát sinh hiệu lực theo quy định của BLDS 2005. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L tiếp tục lập di chúc ngày 02/3/2018 nhằm thay đổi ý chí, định đoạt lại phần tài sản thuộc quyền của mình.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định di chúc chung không có hiệu lực và chấp nhận:

• Yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của bà L;

• Yêu cầu chia di sản của ông Đ theo pháp luật của các đồng thừa kế.

Đồng thời, sau khi xem xét công sức duy trì, tôn tạo tài sản của anh Đ, Tòa án chia cho bà L hưởng 1/2 giá trị khối tài sản chung, căn cứ vào các quy định tại Điều 33, Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Việc áp dụng pháp luật tại thời điểm giải quyết, phán quyết của Tòa án là có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, cách giải quyết này vẫn bộc lộ những hạn chế do phụ thuộc vào quy định chưa hợp lý của BLDS 2005.

4. Tổng kết

Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2015 đã lược bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng, nhưng cũng không cấm việc vợ chồng lập di chúc chung. Điều này dẫn đến cách hiểu:

• Di chúc chung vẫn được thừa nhận nếu đáp ứng điều kiện hợp pháp;

• Tuy nhiên, hiệu lực được xác định tương tự như di chúc cá nhân, căn cứ vào thời điểm mở thừa kế của từng người.

Theo đó, cần xác định:

• Khi ông Đ chết (16/02/2006), phần tài sản của ông trong khối tài sản chung trở thành di sản;

• Phần di sản này phải được chia theo nội dung di chúc mà ông đã thể hiện trong văn bản chung;

• Phần tài sản của bà L vẫn thuộc quyền định đoạt của bà và có thể được thay đổi bằng di chúc sau này.

Cách tiếp cận này thực chất là thừa nhận di chúc chung có hiệu lực từng phần, tương ứng với phần tài sản của mỗi người, hay nói cách khác là “hai di chúc trong cùng một văn bản”.

Tham khảo thêm: Dịch vụ làm di chúc về nhà đất

Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến thừa kế, di chúc, tranh chấp đất đai hoặc các vấn đề khác, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn, đưa ra giải pháp pháp lý tối ưu và đồng hành cùng Quý khách trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Liên hệ ngay qua hotline, email hoặc đến trực tiếp văn phòng để được tư vấn chi tiết và bảo mật tuyệt đối. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây