Theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý di sản là cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản tài sản do người đã mất để lại trong thời gian chưa phân chia thừa kế. Cụ thể:
Người quản lý di sản có thể là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra;
Trường hợp không có chỉ định trong di chúc và các thừa kế chưa thống nhất được người quản lý, thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý tài sản tiếp tục quản lý cho đến khi có người được cử chính thức;
Nếu chưa xác định được người thừa kế và cũng chưa có người quản lý theo các trường hợp trên, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc quản lý di sản.
Như vậy, người quản lý di sản được xác định tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể nhằm bảo đảm tài sản được quản lý liên tục, tránh thất thoát trước khi được phân chia.
Theo quy định tại Điều 617 và Điều 618 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý di sản có các nghĩa vụ và quyền tương ứng với từng trường hợp cụ thể nhằm bảo đảm việc quản lý di sản đúng quy định pháp luật.
(i) Nghĩa vụ của người quản lý di sản
Đối với người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc do cơ quan có thẩm quyền quản lý, các nghĩa vụ chính bao gồm:
Lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản đang do người khác chiếm hữu (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác);
Bảo quản di sản và không được tự ý định đoạt tài sản dưới bất kỳ hình thức nào nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của các thừa kế;
Thông báo tình trạng di sản cho những người thừa kế;
Giao lại di sản theo yêu cầu hợp pháp;
Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ gây ảnh hưởng đến di sản.
Đối với người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản, nghĩa vụ được xác định đơn giản hơn, bao gồm:
Tiếp tục bảo quản di sản, không được tự ý bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản;
Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
Giao lại di sản theo thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của người thừa kế;
Bồi thường thiệt hại nếu có hành vi vi phạm nghĩa vụ.
(ii) Quyền của người quản lý di sản
Đối với người quản lý di sản được chỉ định hoặc do cơ quan có thẩm quyền quản lý, pháp luật ghi nhận các quyền cơ bản sau:
Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với bên thứ ba liên quan đến di sản;
Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với các thừa kế;
Được thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh trong quá trình bảo quản di sản.
Đối với người đang chiếm hữu, sử dụng di sản, quyền của họ bao gồm:
Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của các thừa kế;
Được hưởng thù lao theo thỏa thuận;
Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
Trường hợp các bên không thỏa thuận được về mức thù lao, người quản lý di sản vẫn được hưởng một khoản thù lao hợp lý theo quy định pháp luật.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư về đất đai thừa kế uy tín tại TP. Hồ Chí Minh
Trong quá trình thực hiện việc quản lý di sản thừa kế trên thực tế, người quản lý di sản thường gặp nhiều vướng mắc phát sinh từ cả quy định pháp luật lẫn quan hệ giữa các đồng thừa kế.
Một trong những vấn đề phổ biến là xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ, dẫn đến tình trạng người quản lý lúng túng trong việc xử lý, bảo quản hoặc khai thác tài sản di sản.
Thực tiễn cũng thường phát sinh tranh chấp giữa các đồng thừa kế liên quan đến việc ai là người quản lý di sản, hoặc cho rằng người quản lý không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây ảnh hưởng đến tài sản chung.
Ngoài ra, việc chậm trễ trong thủ tục khai nhận và phân chia di sản khiến thời gian quản lý kéo dài, làm tăng nguy cơ tài sản bị xuống cấp, thất thoát hoặc phát sinh chi phí bảo quản.
Những vấn đề trên cho thấy việc quản lý di sản không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn đòi hỏi sự minh bạch, thống nhất giữa các thừa kế để hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan.
Trong quá trình quản lý di sản thừa kế, việc xác lập và thay đổi người quản lý di sản là vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm tài sản của người đã mất được bảo toàn trước khi phân chia. Pháp luật dân sự đã quy định rõ các căn cứ để xác định chủ thể quản lý cũng như cách thức xử lý khi cần thay đổi người quản lý.
Việc xác lập người quản lý di sản được thực hiện theo Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó có thể do người để lại di chúc chỉ định, do các thừa kế thỏa thuận cử ra hoặc do người đang trực tiếp quản lý tài sản trong trường hợp chưa xác định được người quản lý hợp pháp.
Việc thay đổi người quản lý di sản chủ yếu được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các thừa kế; trường hợp người quản lý không còn đủ điều kiện hoặc vi phạm nghĩa vụ thì các thừa kế có quyền yêu cầu thay thế, hoặc đề nghị Tòa án giải quyết nếu không thống nhất được.
Nhìn chung, việc xác lập và thay đổi người quản lý di sản luôn phải đặt dưới nguyên tắc bảo đảm quản lý an toàn di sản và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thừa kế trong suốt quá trình chưa phân chia di sản.
Trong thực tế giải quyết thừa kế, có những trường hợp di sản không có người nhận hoặc không còn ai đủ điều kiện hưởng. Khi đó, việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định pháp luật về tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Căn cứ Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp không có người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, người không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản, phần còn lại của di sản sẽ thuộc về Nhà nước.
Theo khoản 5 Điều 4 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, tài sản không có người nhận thừa kế thuộc nhóm tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân, tương tự các loại tài sản vô chủ, bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị tịch thu hoặc tài sản tự nguyện chuyển giao cho Nhà nước.
Đồng thời, điểm a khoản 4 Điều 3 Nghị định 77/2025/NĐ-CP cũng xác định rõ tài sản không có người nhận thừa kế theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định pháp luật.
Như vậy, nếu trong thời gian chưa phân chia di sản mà phát sinh trường hợp không có người nhận thừa kế hoặc không còn người đủ điều kiện hưởng, thì sau khi thực hiện nghĩa vụ tài sản, phần còn lại sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định pháp luật.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư tư vấn thừa kế giỏi tại TP. Hồ Chí Minh
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Người quản lý di sản có quyền và nghĩa vụ như thế nào? nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Người quản lý di sản có quyền và nghĩa vụ như thế nào? chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội