Quyền lợi của người lao động khi bị kỷ luật sa thải trái pháp luật

Thứ tư - 17/12/2025 22:55
Sa thải là hình thức kỷ luật nặng nhất trong quan hệ lao động, không chỉ khiến người lao động mất việc làm mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hồ sơ xin việc sau này. Vậy khi bị kỷ luật sa thải không đúng pháp luật, có quyền yêu cầu bồi thường những khoản nào? Làm thế nào để buộc người sử dụng lao động phải nhận lại làm việc? Bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Tô Đình Huy sẽ làm rõ vấn đề này.
Quyền lợi của người lao động khi bị kỷ luật sa thải trái pháp luật
Quyền lợi của người lao động khi bị kỷ luật sa thải trái pháp luật
Mục lục

1. Quy định pháp luật về hình thức kỷ luật sa thải

Kỷ luật sa thải là hình thức kỷ luật lao động nặng nhất, dẫn đến việc chấm dứt quan hệ lao động ngay lập tức. Do tính chất nghiêm trọng, pháp luật quy định rất chặt chẽ về căn cứ, trình tự và các hành vi bị nghiêm cấm để tránh sự lạm quyền từ phía người sử dụng lao động.

Theo quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019 về áp dụng hình thức xử lý kỷ luật như sau:

Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Như vậy, người sử dụng lao động chỉ được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong các trường hợp như quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019.

>> Tham khảo thêm: Tư vấn về sa thải người lao động

2. Như thế nào được coi là một quyết định sa thải trái quy định của pháp luật?

Để xác định một quyết định kỷ luật sa thải là trái pháp luật, cần đối chiếu với các quy định tại BLLĐ 2019. Một quyết định sa thải bị coi là trái pháp luật nếu vi phạm một trong ba yếu tố sau:

Vi phạm về căn cứ nội dung: Người sử dụng lao động (NSDLĐ) sa thải người lao động (NLĐ) không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019.

Vi phạm về thẩm quyền: Người ra quyết định sa thải không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc phân cấp trong nội quy lao động.

Vi phạm về trình tự, thủ tục: Không tuân thủ các bước quy định tại Điều 122 BLLĐ 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Ví dụ: Không có sự tham gia của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở, không chứng minh được lỗi, hoặc sa thải trong thời gian NLĐ đang nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

>> Tham khảo thêm: Luật sư về lao động giỏi - Dịch vụ Luật sư chuyên ngành

3. Quyền lợi của người lao động khi bị sa thải trái luật

Khi có căn cứ xác định việc sa thải là trái pháp luật, NSDLĐ phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 41 BLLĐ 2019, như sau:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

3.1 Nhận trở lại làm việc và bồi thường tiền lương

- Người sử dụng lao động phải trả tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động trong những ngày người lao động không được làm việc.

- Người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho những ngày người không được làm việc.

- Người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động.

3.2 Trường hợp người lao động không muốn quay lại làm việc

Nếu ngừi lao động không muốn tiếp tục làm việc, ngoài các khoản bồi thường thì người sử dụng lao động phải thanh toán thêm trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 BLLĐ 2019.

3.3 Trường hợp người sử dụng lao dộng không muốn nhận lại và người lao động đồng ý

Trong trường hợp này, ngoài các khoản tiền được bồi thường và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động để chấm dứt Hợp đồng lao động.

3.4 Khôi phục quyền và vị trí công việc

Nếu người lao động quay lại làm việc, người sử dụng lao động phải bố trí công việc theo đúng Hợp đồng lao động đã giao kết. Nếu vị trí cũ không còn, hai bên phải thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung Hợp đồng lao động.

3.5 Quyền khởi kiện

Khác với các tranh chấp lao động cá nhân thông thường, tranh chấp về kỷ luật sa thải có những quy định đặc thù về tố tụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 BLLĐ 2019 thì:

Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Như vậy, ranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện tại Tòa án. NLĐ có quyền nộp đơn trực tiếp đến Tòa án.

>> Tham khảo thêm: Luật sư tư vấn tranh chấp sa thải người lao động trái pháp luật tại Toà án khu vực TPHCM

4. Tổng kết những điều người lao động cần lưu ý đề bảo vệ quyền lợi

Các quy định tại Điều 41 BLLĐ 2019 mang tính chất chế tài dân sự nghiêm khắc nhằm bảo vệ quyền làm việc của NLĐ.

- Việc bắt buộc bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương cùng toàn bộ tiền lương trong thời gian bị gián đoạn là một áp lực kinh tế lớn, buộc người sử dụng lao động phải thận trọng tối đa khi áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất là sa thải.

- Sa thải trái pháp luật là việc vi phạm về căn cứ, thẩm quyền hoặc trình tự thủ tục theo BLLĐ 2019.

- Quyền lợi tối thiểu của người lao động bao gồm: Được nhận lại làm việc, nhận lương cho những ngày nghỉ việc, đóng bổ sung bảo hiểm và nhận bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương.

- Nếu không quay lại làm việc, người lao động được hưởng thêm trợ cấp thôi việc và các khoản bồi thường thỏa thuận khác.

 

Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Quyền lợi của người lao động khi bị kỷ luật sa thải trái pháp luật nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Quyền lợi của người lao động khi bị kỷ luật sa thải trái pháp luật chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Chat Facebook
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây