Tranh chấp chia đất khi ly hôn có tính công sức đóng góp

Thứ sáu - 02/10/2026 03:03
Trong các vụ án ly hôn, việc xác định tài sản chung - riêng và định lượng công sức đóng góp đối với đất đai có nguồn gốc tặng cho riêng thường là điểm nóng dễ phát sinh tranh chấp. Thông qua vụ án tranh chấp tài sản giữa bà Lê Thị V và ông Vĩnh Phúc N, Tòa án cấp phúc thẩm đã đưa ra phán quyết thấu tình đạt lý: vừa phân chia theo tỷ lệ nguồn gốc tạo lập, vừa ghi nhận 30% giá trị đất riêng cho người vợ nhờ công sức canh tác và vun vén gia đình suốt nhiều năm.
Tranh chấp chia đất khi ly hôn có tính công sức đóng góp
Tranh chấp chia đất khi ly hôn có tính công sức đóng góp
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 29/9/2025 của TAND Khu vực 1 – Lâm Đồng và Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2026/DS-PT ngày 10/8/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng đã xét xử vụ án “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” giữa nguyên đơn là bà Lê Thị V với bị đơn là ông Vĩnh Phúc N.

Vụ việc là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và chia tài sản khi ly hôn đối với các tài sản gồm: Thửa đất số 1252 (diện tích 162,12 m² đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng vào năm 2003), diện tích đất nông nghiệp chưa cấp giấy chứng nhận (812,49 m² và 242,24 m² thuộc lộ giới đường) có nguồn gốc gia đình chồng tặng cho riêng, cùng số tiền 2.000.000.000 đồng từ việc chuyển nhượng một thửa đất khác trước đó. Về quan hệ hôn nhân, hai bên thống nhất thuận tình ly hôn. Đối với tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận chia đôi (50/50) giá trị thửa đất 1252 và tài sản trên đất, bác yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp (chỉ chia giá trị cây trồng, taluy), và bác yêu cầu chia 1.000.000.000 đồng tiền bán đất. Cả nguyên đơn và bị đơn đều kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc phân chia tài sản. Tòa án cấp phúc thẩm xác định: Thửa đất 1252 là tài sản chung nhưng cần tính đến nguồn gốc ban đầu của gia đình chồng tặng cho để chia theo tỷ lệ 60/40 có lợi hơn cho bị đơn; đối với diện tích đất nông nghiệp dù là tài sản riêng của bị đơn nhưng nguyên đơn có công sức canh tác, làm tăng giá trị đất nên được tính chia 30% giá trị công sức đóng góp; đồng thời giữ nguyên việc bác yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000 đồng do các bên đã có văn bản thỏa thuận tự chia từ trước. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của cả hai đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

2. Tóm tắt nội dung vụ án

Bà Lê Thị V và ông Vĩnh Phúc N kết hôn năm 1995 trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh nhiều bất đồng quan điểm, cãi vã thường xuyên và đã sống ly thân từ năm 2020. Năm 2022, bà V nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu Tòa án phân chia các tài sản chung gồm: nhận một nửa giá trị nhà đất diện tích 162,12 m² thuộc thửa số 1252 (đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng năm 2003); nhận một nửa giá trị thửa đất nông nghiệp diện tích 812,49 m² cùng 242,24 m² đất thuộc lộ giới đường (chưa được cấp giấy chứng nhận); và chia khoản tiền 2.000.000.000 đồng do ông N đang nắm giữ từ việc chuyển nhượng thửa đất số 69 trước đó để phục vụ cho việc xây nhà nhưng hiện giờ không còn nhu cầu xây nhà nữa. Về phía bị đơn, ông N đồng ý ly hôn nhưng không chấp nhận các yêu cầu chia tài sản của nguyên đơn. Ông N cho rằng toàn bộ các bất động sản trên đều do gia đình ông tặng cho riêng nên là tài sản riêng; đối với thửa đất số 1252 dù có tên vợ trên giấy chứng nhận nhưng ông chỉ đồng ý hỗ trợ chia 30% giá trị; đồng thời khẳng định khoản tiền bán đất đã được các bên lập văn bản thỏa thuận phân chia xong vào ngày 20/11/2021.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 29/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Lâm Đồng chấp nhận cho hai bên ly hôn; xác định thửa đất số 1252 là tài sản chung và chia cho bà V 50% giá trị (tương ứng 1.084.300.400 đồng); chỉ chấp nhận chia 50% giá trị tài sản gắn liền trên đất nông nghiệp (12.640.000 đồng) và bác yêu cầu chia quyền sử dụng diện tích đất này do chưa có giấy chứng nhận; đồng thời bác yêu cầu đòi chia 1.000.000.000 đồng tiền bán đất. Không đồng ý với phán quyết trên, bà V kháng cáo yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000 đồng và chia giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp; ông N kháng cáo yêu cầu chỉ chia cho bà V 30% giá trị thửa đất số 1252 có tính đến nguồn gốc đất của gia đình ông.

Đến Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2026/DS-PT ngày 10/8/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận định: Đối với thửa đất số 1252, dù là tài sản chung do đứng tên cả hai người nhưng có nguồn gốc từ gia đình ông N tặng cho nên việc cấp sơ thẩm cào bằng chia đôi là chưa phù hợp; Tòa phúc thẩm sửa án, chia cho ông N hưởng 60% và bà V hưởng 40% giá trị (tương ứng 867.440.000 đồng). Đối với khu đất nông nghiệp, tuy biên bản họp mặt gia đình năm 1998 thể hiện việc tặng cho riêng ông N, nhưng quá trình chung sống bà V đã phụ giúp làm vườn duy trì đất và làm thuê gánh vác kinh tế gia đình nên công sức đóng góp của bà phải được ghi nhận; Hội đồng xét xử quyết định chia cho bà V 30% giá trị tài sản (tương ứng 2.481.390.000 đồng) và giao đất cho ông N tiếp tục canh tác. Đối với số tiền chuyển nhượng đất, Tòa phúc thẩm giữ nguyên việc bác yêu cầu của bà V do các bên đã có văn bản thỏa thuận tự nguyện phân chia tiền từ trước. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của cả hai bên và sửa bản án sơ thẩm.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư tư vấn chia tài sản chung sau khi ly hôn

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình phức tạp về xác định ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, cũng như nguyên tắc phân chia tài sản khi một bên nhận tặng cho từ gia đình trong thời kỳ hôn nhân. Vấn đề pháp lý mấu chốt là xem xét hiệu lực của các thỏa thuận phân chia, việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung khi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc tính toán công sức đóng góp của người vợ đối với diện tích đất nông nghiệp do người chồng được tặng cho riêng.

3.1 Nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung và căn cứ phân chia theo tỷ lệ nguồn gốc

Theo quy định tại Điều 14, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản được tặng cho riêng có thể được nhập vào khối tài sản chung nếu có sự thỏa thuận hoặc đăng ký quyền sở hữu chung của cả hai vợ chồng.

- Đối với thửa đất số 1252 (diện tích 162,12 m²): Dù ban đầu đất có nguồn gốc từ gia đình ông N, nhưng quá trình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận năm 2003, ông N đã tự nguyện kê khai đăng ký đứng tên cả hai vợ chồng và được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên bà V và ông N. Do đó, việc xác định đây là tài sản chung của vợ chồng là hoàn toàn chính xác.

- Về tỷ lệ phân chia: Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung được chia đôi nhưng phải tính đến công sức đóng góp và nguồn gốc tài sản. Việc Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá nguồn gốc thửa đất xuất phát từ gia đình bên chồng để phân chia cho ông N hưởng 60% và bà V hưởng 40% giá trị tài sản là thấu tình đạt lý, bảo đảm sự cân bằng về mặt công bằng thực tế thay vì cào bằng tỷ lệ 50/50.

3.2 Ghi nhận công sức đóng góp, duy trì đối với tài sản riêng của chồng

Đối với diện tích đất nông nghiệp 812,49 m² (và 242,24 m² thuộc lộ giới đường), biên bản họp gia đình năm 1998 ghi rõ nội dung: “Đất này Má cho con sử dụng chứ không phải của chồng công vợ” và được UBND xã xác nhận. Do đó, đây là tài sản riêng của ông N và ông N không có văn bản nhập vào tài sản chung. Tuy nhiên trong suốt quá trình chung sống nhiều năm, ông N chỉ làm vườn với thu nhập rất thấp (12 – 20 triệu đồng/năm), không đủ chi tiêu gia đình. Bà V ngoài việc phụ giúp làm vườn để trực tiếp duy trì, cải tạo và làm tăng giá trị thửa đất, còn phải đi làm thuê tạo thu nhập chính nuôi sống gia đình và chăm lo các con ăn học.

Căn cứ quy định về việc bảo vệ quyền lợi của vợ/chồng đối với công sức duy trì, phát triển tài sản riêng của bên kia, Tòa án cấp phúc thẩm đã trích chia 30% giá trị tài sản (tương ứng 2.481.390.000 đồng) cho bà V. Đây là một điểm sáng thể hiện sự nhân văn và áp dụng đúng tinh thần bảo đảm công sức đóng góp của người phụ nữ trong lao động gia đình.

3.3 Bác bỏ văn bản chia tài sản viết tay không công chứng và bảo đảm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận đã thực hiện

- Đối với văn bản chia tài sản thửa đất 1252 viết tay ngày 20/11/2021 (ông N hưởng 7 phần, bà V hưởng 3 phần): Văn bản này không được công chứng, chứng thực theo Khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên bị vô hiệu về hình thức, không có giá trị ràng buộc phân chia trước Tòa.

- Đối với yêu cầu đòi chia 1.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất: Các đương sự đã có văn bản thỏa thuận nhận tiền thực tế ký ngày 20/11/2021, bà V đã ký nhận tiền và không có chứng cứ hợp lệ chứng minh việc chưa nhận đủ. Tòa án hai cấp bác yêu cầu phân chia lại số tiền này là hoàn toàn chính xác nhằm tôn trọng sự tự nguyện định đoạt của các bên.

3.4 Phán quyết của Tòa án

Ở bản án sơ thẩm, Tòa án còn cứng nhắc khi chia đôi 50/50 thửa đất 1252 (chưa tính đến nguồn gốc tạo lập của nhà chồng) và bác bỏ hoàn toàn giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp của bà V (chưa ghi nhận công sức lao động duy trì tài sản của người vợ) là chưa đánh giá toàn diện các yếu tố thực tế.

Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm là toàn diện và chuẩn xác khi chấp nhận một phần kháng cáo của cả nguyên đơn và bị đơn, sửa bản án sơ thẩm để giao đất cho người chồng quản lý sản xuất, đồng thời buộc người chồng trích hoàn trả giá trị bằng tiền tương xứng với công sức và tỷ lệ tài sản chung cho người vợ. Phán quyết này bảo đảm tối đa tính khả thi khi thi hành án và giữ được tư liệu sản xuất cho đương sự.

4. Tổng kết

Vụ án trên là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc giải quyết các tranh chấp tài sản hôn nhân có yếu tố đất đai được tặng cho riêng từ gia đình. Pháp luật hiện hành tôn trọng ý chí tặng cho riêng của bố mẹ cho con đẻ, nhưng một khi tài sản đó đã được người nhận tự nguyện đưa vào kê khai, đăng ký biến động chung tên cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận thì quyền sử dụng đất đương nhiên chuyển hóa thành tài sản chung của thời kỳ hôn nhân.

Đồng thời, bản án phúc thẩm khẳng định nguyên tắc xuyên suốt của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Công sức đóng góp của vợ/chồng không chỉ đo đếm bằng việc trực tiếp bỏ tiền mua đất, mà còn bao gồm công sức lao động nội trợ, canh tác, cải tạo đất và tạo dựng nguồn sống cho gia đình. Việc Tòa án cấp phúc thẩm công nhận giá trị công sức đóng góp 30% đối với khối tài sản riêng của chồng cho người vợ đã bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ khi bước ra khỏi cuộc hôn nhân.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn khởi kiện chia tài sản sau ly hôn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây