Tranh chấp di chúc không công chức vẫn có hiệu lực

Thứ sáu - 02/10/2026 03:30
Tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc không công chứng, chứng thực là vấn đề pháp lý phổ biến. Thông qua một bản án cụ thể, bài viết phân tích chi tiết quy định pháp luật hiện hành để làm rõ vì sao di chúc bằng văn bản có người làm chứng vẫn giữ nguyên hiệu lực dù không qua thủ tục công chứng.
Tranh chấp di chúc không công chứng vẫn có giá trị
Tranh chấp di chúc không công chứng vẫn có giá trị
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án số 504/2025/DS-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm tranh chấp thừa kế giữa nguyên đơn là ông Lê Nguyễn Minh T và bị đơn là cụ Trần Thị L.

Vụ việc tranh chấp liên quan đến tính hợp pháp của di chúc do người chết để lại. Trước đây, người này cùng vợ có tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng các thửa đất. Trước khi chết người này đã lập di chúc, được những người hưởng di sản trong bản di chúc ký tên đồng ý cùng với sự chứng kiến của hai người làm chứng. Tuy nhiên di chúc này không được công chứng, chứng thực. Sau khi người để lại di sản chết, các thửa đất trên do vợ quản lý sử dụng. Sau này, do nguyên đơn cho rằng việc di chúc không được công chứng, chứng thực mà chỉ có những người hưởng di sản ký tên là không khách quan, không phản ánh được ý chí của người chết nên đã khởi kiện yêu cầu hủy bản di chúc và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của người chết. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn không đồng ý nên đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tòa án cấp phúc thẩm đã công nhận tính hợp pháp của di chúc, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc

2. Tóm tắt nội dung bản án

Cụ Trần Thị L (bị đơn) cùng chồng là cụ Lê Văn H có 09 người con chung, trong đó có ông Lê Văn Nghiệp (chết ngày 12/8/2019) có hai người con là Lê Nguyễn Minh T (nguyên đơn) và Lê Nguyễn Hoàng Y. Vợ chồng cụ có tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng các thửa đất số 1514, 1515, 1517, 1577 cùng tờ bản đồ số 6, được Ủy ban nhân dân huyện Bến Lức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/6/2004 và đã được cấp đổi thành các thửa mới vào năm 2010.

Ngày 24/10/2019, vợ chồng cụ H và cụ L có lập di chúc với nội dung là sau khi các cụ qua đời sẽ để lại quyền sử dụng các thửa đất và tài sản khác gắn liền với đất cho các con. Bản di chúc được lập ở nhà riêng của hai cụ dưới sự làm chứng của các ông Trương Tấn Hữu và Trần Văn Cảnh. Trong di chúc, cụ H có ký tên, lăn dấu tay; cụ L lăn dấu tay nhưng không ký tên do không biết chữ. Trước khi lập di chúc thì cụ H đã đi giám định pháp y và được kết luận là đủ năng lực để thực hiện lập di chúc.

Năm 2020 cụ H chết, các thửa đất trên hiện do cụ L quản lý sử dụng. Nguyên đơn không chấp nhận bản di chúc lập ngày 24/10/2019 vì cho rằng di chúc không được công chứng, chứng thực nhưng lại có những người hưởng di sản trong di chúc ký tên đồng ý là không khách quan, có thể di chúc này được lập sau khi cụ H chết.

Do đó, tại đơn khởi kiện ngày 08/4/2021, ngày 16/11/2022, ông T yêu cầu Tòa án hủy bản di chúc lập ngày 24/10/2019 đồng thời yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của cụ H để lại; xin được nhận hiện vật phần ông T được hưởng từ thừa kế thế vị của ông Nghiệp, trường hợp không nhận được đất thì thì ông xin nhận bằng giá trị theo kết quả định giá.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, đã tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 26/9/2024, nguyên đơn thông qua người đại diện là ông D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông T.

Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử nhận định rằng di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người có mong muốn định đoạt tài sản, ông T không có quyền yêu cầu hủy bỏ di chúc của người khác. Đồng thời, di chúc của cụ H và cụ L lập ngày 24/10/2019 là hợp pháp, yêu cầu khởi kiện đề nghị chia thừa kế theo pháp luật của cụ H trong khối tài sản chung của cụ L là không hợp lý. Đối với hình thức di chúc, Hội đồng xét xử nhận định đây là di chúc đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hình thức và nội dung. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp uy tín

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp

3.1. Hiệu lực của di chúc không được công chứng, chứng thực

Việc di chúc không được công chứng, chứng thực là lý do mà nguyên đơn đưa ra để bác bỏ tính hợp pháp của di chúc trong tranh chấp. Theo pháp luật dân sự di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 630 BLDS 2015, tức về chủ thể lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; về nội dung và hình thức thì không được trái quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội.

Trong vụ việc trên thì di chúc đã đáp ứng được các điều kiện luật định vì trước khi lập di chúc, cụ H đã tiến hành giám định sức khỏe và cũng không có bằng chứng nào cho thấy khi lập di chúc, cụ H bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép. Về nội dung thì di chúc đã ghi rõ ngày tháng năm, họ tên của người lập di chúc, người được hưởng di sản và nơi có di sản phù hợp với Điều 631 BLDS 2015. Về hình thức thì đây là di chúc dưới dạng văn bản đánh máy, có hai người làm chứng là ông Hữu và ông Cảnh, có chữ ký và dấu tay của cụ H cũng như dấu tay của cụ L, thỏa mãn các điều kiện quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng tại Điều 634 BLDS 2015.

Đồng thời pháp luật dân sự cũng có quy định trường hợp di chúc phải có công chứng, chứng thực là di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ, lúc này người làm chứng có nghĩa vụ lập di chúc thành văn bản và đi công chứng, chứng thực. Tuy nhiên trong trường hợp này cụ H và cụ L đều minh mẫn, đây là di chúc chung nên việc cụ L không biết chữ cũng không ảnh hưởng nên không bắt buộc phải có công chứng, chứng thực. Bên cạnh đó việc công chứng, chứng thực là quyền của người để lại di sản chứ không phải nghĩa vụ theo Điều 635 BLDS 2015. Do đó, di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật.

3.2. Người thừa kế biết và ký tên không ảnh hưởng đến tính hợp pháp của di chúc

Các quy định để một di chúc hợp pháp không cấm việc người thừa kế biết và ký tên trong bản di chúc. Việc những người thừa kế biết và ký vào tờ di chúc thể hiện sự đồng ý đối với việc chia di sản theo ý chí của người để lại di sản, nên nó không ảnh hưởng đến tính khách quan của di chúc.

Ngoài ra, Điều 632 BLDS 2015 có quy định người thừa kế theo di chúc không được là người làm chứng cho việc lập di chúc, tuy nhiên trong vụ việc những người này không ký với tư cách người làm chứng, người làm chứng là ông Hữu và ông Cảnh. Như vậy, di chúc vẫn được coi là hợp pháp và có hiệu lực.

3.3. Phán quyết của Tòa án

Cả Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều đưa ra quyết định là không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là hợp lý. Để nhận định một di chúc có hợp pháp hay không, cần xem xét cả về hình thức lẫn nội dung của di chúc. Trong trường hợp này về mặt nội dung đã đáp ứng được, các bên chỉ có tranh chấp về hình thức của di chúc, cụ thể là về vấn đề công chứng, chứng thực và chữ ký của các người thừa kế trong bản di chúc.

Tòa án đã nhận định đúng về bản chất của một di chúc hợp pháp, không nhất thiết phải có công chứng, chứng thực mới được xem là hợp pháp, mà chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định. Bản chất việc công chứng, chứng thực chỉ bắt buộc phải có trong trường hợp người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt hay không biết chữ và đây cũng không phải là nghĩa vụ của người lập di chúc. Tòa cũng đã có cái nhìn khách quan về việc người thừa kế biết và ký tên vào di chúc, phân biệt rõ tư cách người làm chứng.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư chuyên về thừa kế nhà đất tại Tp.HCM

4. Tổng kết

Vụ án cung cấp cái nhìn rõ hơn về hình thức của một di chúc hợp pháp. Việc di chúc không được công chứng, chứng thực cũng như những người thừa kế theo di chúc biết và ký tên vào di chúc không mặc nhiên ảnh hưởng đến tính hợp pháp của di chúc mà cần xem xét trong từng trường hợp cụ thể.

Phán quyết của Tòa án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm thể hiện sự nhất quán trong việc hiểu và áp dụng pháp luật. Qua đó giúp người có mong muốn định đoạt di sản sau khi chết cũng như những người thừa kế hiểu hơn về quy định của pháp luật về vấn đề thừa kế, đặc biệt là về tính khách quan trong hình thức của di chúc.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây