Bản án số 265/2025/DS-PT ngày 26 và ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc “Tranh chấp về thừa kế; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Tạ Thị H (sinh năm 1959) và bị đơn là ông Tạ Xuân Đ (đã chết ngày 12/6/2024).
Nguyên đơn với bị đơn là hai chị em cùng cha khác mẹ và có những anh chị em khác, cha mẹ của hai người có tài sản chung là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 diện tích 810 m2. Khi cha mẹ chết không có để lại di chúc, các chị em mới bàn bạc thống nhất bán một phần đất, phần còn lại sẽ để cho gia đình bị đơn quản lý sử dụng. Bị đơn ban đầu đồng ý với phương án này và đi hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ chuyển nhượng đất và đã được Ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận, nhưng lúc sau đã thay đổi, không đồng ý với cam kết trước đó. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý nên kháng cáo toàn bộ bản án. Tòa án cấp phúc thẩm sau khi xem xét đã chấp nhận kháng cáo và hủy bản án sơ thẩm.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giỏi về giải quyết tranh chấp đất đai
Sinh thời, cụ Tạ Sinh H5 có hai người vợ, vợ cả là cụ Phạm Thị C1 và vợ hai là cụ Phạm Thị M2. Cụ C1 và cụ M2 là hai chị em ruột. Giữa cụ H5 và cụ C1 sinh được 06 người con, trong đó có bà Tạ Thị H (Nguyên đơn), giữa cụ H5 và cụ M2 có 07 người con, gồm cả ông Tạ Xuân Đ (Bị đơn). Các cụ H5, C1 và M2 khi chết đều không để lại di chúc. Về nguồn gốc đất thì giữa nguyên đơn và bị đơn có sự tranh cãi.
Nguyên đơn cho rằng thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 diện tích 810 m2 tại thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội là do các cụ để lại cho bố mẹ của bà là cụ H5, cụ C1, cụ M2. Các chị em, gồm cả ông Đ được sinh ra và ở trên mảnh đất này, sau này các chị em gái đều về nhà chồng sinh sống còn ông Đ cùng gia đình vẫn tiếp tục sinh sống trên đất này. Tài sản gắn liền với đất đều do bố mẹ cụ H5 để lại, cụ C1 và M2 không có tài sản gì trên đất. Sau này các công trình trên đất cũ và xuống cấp nên gia đình ông Đ có sửa sang lại, các chị em khác không có đóng góp gì về tiền bạc.
Về quyền sử dụng đất thì các chị em gái có bàn bạc với ông Đ thống nhất bán đi một phần đất để làm nơi thờ cúng cho bố mẹ, đồng thời chia cho các chị em mỗi người một ít, phần còn lại giao cho gia đình ông Đ quản lý sử dụng. Ông Đ sau đó có đi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ cho việc chuyển nhượng phần đất trên. Ngày 10/10/2016 ông có đi đến từng nhà các chị em để xin ký vào “Biên bản Thỏa thuận về việc phân chia quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”, tuy nhiên có đến hai biên bản thỏa thuận về việc phân chia quyền sử dụng đất cùng ngày và những người ký lại khác nhau và không đủ chữ ký của tất cả anh chị em. Ngày 01/3/2018, ông Đ được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận thì ông Đ không chịu chia đất cho các chị em như đã thỏa thuận trước đó.
Do đó bà H yêu cầu Tòa án hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đ, chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất này. Ngoài ra bà H còn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 40m2 đất nông nghiệp tại khu M, thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội nhưng sau đó đã nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất nông nghiệp này.
Phía bị đơn thì lại cho rằng thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 không phải do các cụ để lại cho cụ H5, cụ C1 và cụ M2 mà có nguồn gốc từ việc các cụ được Nhà nước cấp cho nhưng diện tích nhỏ chỉ khoảng 50m2, sau do thực hiện cải cách ruộng đất nên bị chính quyền tịch thu. Sau đó chính quyền có chính sách trả lại đất thì ông Đ là người kê khai nhận lại đất và là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất trên. Về sự tồn tại của biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2016 là do khi đi kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ khai nguồn gốc đất là của cha ông để lại theo sự tư vấn của cán bộ địa chính nên cơ quan Nhà nước yêu cầu những người con của cha mẹ ông Đ có ý kiến nên mới có biên bản đó. Ngoài ra để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đ đã phải đóng thêm 385.560.000 đồng nên ông đề nghị xem xét toàn diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Tại Bản án sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, xác định 816m2 đất tại thửa số 25 là di sản thừa kế, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản. Ngày 10/9/2024 người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
Trong tranh chấp, tại bản án sơ thẩm Tòa án đã chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế từ di sản chung của cụ H5, C1 và M2 mà không có sự tách bạch rõ ràng. Do các cụ chết không để lại di chúc, trước khi chia thừa kế cho các con, cần xác định phần di sản của từng cụ rồi mới xác định hàng thừa kế để chia. Ở đây Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định không đúng hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1, cụ thể người thừa kế của cụ C1 bao gồm bà T2, bà H2, bà P1 và bà H, những người còn lại là con của cụ M2, không sống cùng cụ C1 nên việc Tòa án xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1 là 10 người con là chưa hợp lý dẫn đến việc chia di sản không đúng.
Ủy ban nhân dân huyện Đ đã dựa vào Biên bản thỏa thuận về việc phân chia quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 10/10/2016 để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ là chưa đủ căn cứ. Vì trong văn bản chỉ có 06 chữ ký trong khi có 09 người con còn sống, 01 người đã chết nhưng có người thừa kế quyền và nghĩa vụ, văn bản đã không thể hiện đủ ý kiến của những người liên quan. Đồng thời việc những người này ký vào văn bản cũng chưa thể hiện được là đồng ý giao đất và tài sản trên đất cho ông Đ, những người khoong ký vào biên bản có biết hay không biết về việc này. Do đó chưa có đủ căn cứ để cho rằng hành vi ký vào biên bản là thể hiện ý chí tặng cho ông Đ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét kỹ các quy định về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà chỉ căn cứ vào ngày cụ M2 chết là ngày 02/4/1980 trong khi đến ngày 08/10/2020 bà H mới gửi đơn khởi kiện, dựa vào quy định hiện hành tại Điều 623 BLDS năm 2015 lấy mốc 30 năm để kết luận rằng đã hết thời hiệu khởi kiện. Việc xác định như vậy là chưa hợp lý theo quy định của các văn bản hướng dẫn về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Theo đó, đối với thừa kế mở trước thời điểm ngày 10/9/1990 thì cần áp dụng cách tính khác, cụ thể là 30 năm đối với bất động sản, cộng thêm 02 năm 06 tháng để trừ vào khoảng thời gian Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 chưa có hiệu lực. Như vậy, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong vụ tranh chấp này là 32 năm 06 tháng tính từ ngày 10/9/1990, tức đến ngày 10/3/2023.
Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chia thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên hướng giải quyết này chưa áp dụng đúng quy định của pháp luật trong quá trình chia thừa kế cũng như nhận định chưa đúng là thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Điều này dẫn đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.
Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm là hợp lý, đảm bảo công bằng khi phát hiện các vấn đề chưa hợp lý trong bản án sơ thẩm. Việc xác định lại hàng thừa kế thứ nhất và tính lại thời hiệu khởi kiện là có căn cứ. Hướng giải quyết này là đảm bảo quyền lợi của các bên và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
👉 Tham khảo thêm: Hướng dẫn thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai
Từ vụ việc trên cho thấy chia thừa kế khi không có di chúc là một vấn đề phức tạp. Tòa án cần phải thận trọng trong việc xác định di sản và hàng thừa kế, tránh sai sót hoặc nhầm lẫn dẫn đến kết quả không đúng. Đồng thời, cũng cần xem xét kỹ nguồn gốc đất, văn bản thỏa thuận có thể hiện được ý chí của các bên hay không, tránh tình trạng cấp giấy chứng nhận khi không có đủ căn cứ.
Vì vậy hướng giải quyết của Tòa án phúc thẩm khi hủy bản án sơ thẩm, điều chỉnh lại các vấn đề là hợp lý, đảm bảo sự khách quan trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế.
Chúng tôi trên mạng xã hội