TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG VÀ PHỤ CẤP KHI CHUYỂN LƯƠNG KHOÁN

Thứ tư - 07/10/2026 03:06
Trong thực tiễn lao động tại các đơn vị sự nghiệp công lập, việc chuyển đổi cơ chế tiền lương và hợp đồng có thể phát sinh tranh chấp về mức lương, phụ cấp và quyền lợi của người lao động. Bản án dưới đây là một trường hợp điển hình, qua đó làm rõ cách Tòa án xem xét các vấn đề này.
TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG VÀ PHỤ CẤP KHI CHUYỂN LƯƠNG KHOÁN (1)
TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG VÀ PHỤ CẤP KHI CHUYỂN LƯƠNG KHOÁN (1)
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Thông tin bản án: Bản án lao động phúc thẩm số 102/2026/LĐPT ngày 04/6/2026 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án “Tranh chấp về tiền lương, tranh chấp hợp đồng lao động và trợ cấp thu hút”. Vụ án được đưa ra xét xử do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án lao động sơ thẩm số 07/2025/LĐST ngày 15/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh

Đương sự:
+ Nguyên đơn: Ông Trương Minh Đ (sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh).
+ Bị đơn: Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội thuộc Sở Y tế Thành phố H (địa chỉ: Ấp F, xã T, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh).
Mô tả sơ lược về vụ việc: Ông Đ làm công việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội tại Trung tâm từ năm 2006 theo chế độ hợp đồng Nghị định 68/2000/NĐ-CP, hưởng lương theo hệ số và các khoản phụ cấp của Nghị định 204/2004/NĐ-CP cùng trợ cấp thu hút 1.200.000 đồng/tháng theo Quyết định số 2001/QĐ-UBND của UBND tỉnh B. Từ năm 2020, thực hiện chính sách chuyển đổi vị trí phục vụ sang cơ chế khoán theo Nghị định 161/2018/NĐ-CP, Trung tâm ký lại hợp đồng lao động mới, chuyển toàn bộ phụ cấp và trợ cấp thu hút gộp vào tiền lương khoán hàng tháng. Cho rằng việc không còn tách dòng phụ cấp trên bảng lương là bị cắt giảm thu nhập và vi phạm quy định pháp luật, ông Đ khởi kiện yêu cầu hủy các hợp đồng đã ký năm 2020 và 2021; đòi truy lĩnh các khoản chênh lệch tiền lương và phụ cấp thu hút từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2024 với tổng số tiền 90.386.400 đồng; đồng thời buộc đơn vị phải ký lại hợp đồng theo ngạch bậc, hưởng thang bảng lương cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đình chỉ một phần yêu cầu hủy hợp đồng do hết thời hiệu và bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện còn lại. Xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ông Trương Minh Đ làm công việc chăm sóc người bệnh tâm thần nặng, bại liệt, nhiễm HIV tại Trung tâm Bảo trợ xã hội từ ngày 16/6/2006. Giai đoạn 2006–2019, ông ký hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP, xếp lương theo ngạch bậc viên chức tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP (hệ số 2.08), hưởng các chế độ phụ cấp khu vực (20%), phụ cấp độc hại (10%), ưu đãi nghề (70%) và trợ cấp thu hút 1.200.000 đồng/tháng theo Quyết định số 2001/QĐ-UBND ngày 25/9/2012 của UBND tỉnh B; tổng thu nhập thực nhận tháng 12/2019 là 6.915.640 đồng. Thực hiện Nghị định số 161/2018/NĐ-CP và hướng dẫn tại Công văn số 638/HD-SNV-STC của Sở Nội vụ tỉnh B về chuyển đổi vị trí phục vụ sang cơ chế hợp đồng mới, ngày 02/01/2020, Trung tâm và ông Đ ký Hợp đồng lao động số 29/HĐLV thời hạn 12 tháng (từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), xác định mức lương khoán là 6.915.640 đồng/tháng. Sau đó, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng lao động số 45/HĐ-TTBTXH xác định lương khoán là 7.225.040 đồng/tháng. Đến ngày 10/3/2025, hai bên ký Hợp đồng lao động mới số 62/HĐLĐ loại không xác định thời hạn (kèm phụ lục sửa đổi) để thay thế hợp đồng cũ. Ngày 04/01/2025, ông Đ nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:
  1. Hủy Hợp đồng lao động số 29/HĐLV ngày 02/01/2020 và Hợp đồng số 45/HĐ-TTBTXH ngày 31/12/2021.
  2. Buộc Trung tâm bồi hoàn tiền chênh lệch lương bị giảm khi chuyển hợp đồng: Giai đoạn 2020–2021 (24 tháng x 120.800 đồng = 2.899.200 đồng); giai đoạn 2022–2024 (36 tháng x 430.200 đồng = 15.487.200 đồng).
  3. Buộc chi trả trợ cấp thu hút theo Quyết định 2001/QĐ-UBND từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2024: 60 tháng x 1.200.000 đồng = 72.000.000 đồng. Tổng số tiền đòi chi trả là 90.386.400 đồng.
  4. Buộc Trung tâm ký hợp đồng mới theo mẫu số 3 Thông tư 03/2019/TT-BNV, xếp lương và phụ cấp theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP và Nghị định 26/2016/NĐ-CP.
Phía bị đơn phản đối toàn bộ yêu cầu, khẳng định mức lương theo hợp đồng mới được xây dựng bằng cách gộp toàn bộ lương hệ số và các khoản phụ cấp trước đây thành tổng lương khoán, bảo đảm thu nhập không thấp hơn mức hưởng trước khi chuyển đổi. Đồng thời, bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với Hợp đồng số 29/HĐLV.
Quá trình xét xử:
  • Bản án sơ thẩm số 07/2025/LĐST ngày 15/9/2025 của TAND Khu vực 12 – TP. Hồ Chí Minh: Đình chỉ yêu cầu hủy Hợp đồng số 29/HĐLV do hết thời hiệu; bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn; miễn toàn bộ án phí cho ông Đ.
  • Bản án phúc thẩm số 102/2026/LĐPT ngày 04/6/2026 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh: Tuyên không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Minh Đ, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.

3. Bình luận nội dung bản án

3.1 Áp dụng thời hiệu và hiệu lực của các hợp đồng lao động kế tiếp

Về yêu cầu hủy Hợp đồng lao động số 29/HĐLV ngày 02/01/2020: Thời hạn thực hiện hợp đồng này kết thúc vào ngày 31/12/2020. Theo khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019:
3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Ngày 04/01/2025 ông Đ mới khởi kiện, bị đơn đã kịp thời đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa sơ thẩm ra phán quyết. Do đó, việc hai cấp Tòa án căn cứ Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết yêu cầu này là phù hợp về thủ tục.
Đối với yêu cầu hủy Hợp đồng lao động số 45/HĐ-TTBTXH: Đến ngày 10/3/2025, hai bên đã hoàn toàn tự nguyện giao kết Hợp đồng lao động số 62/HĐLĐ cùng Phụ lục kèm theo để thay thế toàn bộ quan hệ lao động cũ. Việc các bên tự nguyện xác lập hợp đồng mới để thay thế hợp đồng trước đó cho thấy Hợp đồng số 45 đã chấm dứt hiệu lực và quan hệ lao động tiếp tục được thực hiện theo hợp đồng mới. Trong trường hợp không có căn cứ cho thấy việc giao kết hợp đồng mới bị lừa dối, cưỡng ép hoặc vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch, yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng số 45 là không có cơ sở.

3.2. Cơ chế lương khoán và chế độ thu hút theo Nghị định 161/2018/NĐ-CP

Trước năm 2020, các công việc theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP áp dụng bảng lương ngạch bậc của công chức, viên chức (Nghị định 204/2004/NĐ-CP), thể hiện tách bạch từng dòng lương hệ số, phụ cấp chức vụ, phụ cấp độc hại và trợ cấp thu hút địa phương. Tuy nhiên, từ khi Nghị định 161/2018/NĐ-CP có hiệu lực, Nhà nước bãi bỏ việc xếp lương viên chức cho nhóm đối tượng này, chuyển sang cơ chế thỏa thuận lương theo kinh phí khoán với một nguyên tắc bắt buộc: “Mức lương trong hợp đồng lao động mới không thấp hơn mức lương hiện hưởng”.
Hội đồng xét xử hai cấp đã kiểm tra, đối chiếu bảng lương thực tế rất chi tiết:
  • Tại thời điểm tháng 12/2019, tổng thu nhập của ông Đ gồm lương hệ số và tất cả phụ cấp (bao gồm cả 1.200.000 đồng trợ cấp thu hút theo Quyết định 2001) là 6.915.640 đồng.
  • Khi ký Hợp đồng số 29/HĐLV từ tháng 01/2020, mức lương khoán ghi nhận là 6.915.640 đồng/tháng; đến Hợp đồng số 45 tăng lên 7.225.040 đồng/tháng.
Việc các cột phụ cấp riêng rẽ không còn xuất hiện trên bảng thanh toán hàng tháng không đồng nghĩa với việc người lao động bị cắt xén quyền lợi mà thực chất toàn bộ các cấu phần ưu đãi này đã được đơn vị gộp trọn gói vào số tiền lương khoán chung. Vì tổng thu nhập thực tế của người lao động luôn bằng hoặc cao hơn mốc lương tháng 12/2019, không hề có thiệt hại thực tế phát sinh. Do đó, phán quyết bác bỏ toàn bộ yêu cầu đòi truy thu khoản tiền 90.386.400 đồng của Toà án là hoàn toàn phù hợp, khách quan.

3.3. Bác bỏ yêu cầu áp dụng thang bảng lương công chức, viên chức

Yêu cầu của ông Đ về việc đòi áp dụng Nghị định 204/2004/NĐ-CP và Nghị định 26/2016/NĐ-CP là không phù hợp với pháp luật lao động hiện hành. Ông Đ tham gia tuyển dụng là lao động hợp đồng làm công việc hỗ trợ, phục vụ, không phải là công chức hay viên chức qua thi tuyển chức danh nghề nghiệp. Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 111/2022/NĐ-CP, đối với người lao động làm công việc hỗ trợ, phục vụ thì tiền lương được xác định theo quy định của pháp luật lao động, pháp luật dân sự, quy định của pháp luật khác có liên quan. Việc người lao động trước đây từng hưởng lương theo bảng lương quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP không đương nhiên làm phát sinh quyền tiếp tục áp dụng cơ chế tiền lương dành cho công chức, viên chức sau khi chuyển sang quan hệ hợp đồng lao động.”

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn khởi kiện tranh chấp hợp đồng lao động

4. Tổng kết

Bản án phúc thẩm số 102/2026/LĐPT cho thấy tranh chấp về tiền lương phát sinh khi chuyển đổi cơ chế hợp đồng cần được xem xét trên cơ sở toàn bộ quá trình thay đổi quan hệ lao động, nội dung hợp đồng mới và mức thu nhập thực tế của người lao động. Việc các khoản phụ cấp trước đây không còn được thể hiện riêng trên bảng lương không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền lợi của người lao động bị cắt giảm; cần đối chiếu với mức lương được thỏa thuận trong hợp đồng mới và cơ chế chuyển đổi được áp dụng.

Tác giả: Quyên Phạm Bảo

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây