Bản án số 189/2024/ST-HNGĐ ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn giữa nguyên đơn ông Lê NV và bị đơn bà Ninh Thị TH.
Đây là vụ án xoay quanh vấn đề giải quyết nghĩa vụ về con chung và tài sản giữa những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Nguyên đơn và bị đơn trước kia có chung sống không đăng ký kết hôn, trong quá trình đó giữa hai người có 01 người con chung và tài sản là căn hộ chung cư do bị đơn đứng tên. Sau này do không còn sống chung nữa nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, yêu cầu nuôi dưỡng con và xác định tài sản là của riêng ông NV. Tòa án sau khi xem xét đã ra phán quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp tài sản chung
Năm 2019, ông NV (nguyên đơn) và bà TH (bị đơn) chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn. Giữa ông bà có 01 người con chung là cháu Lê ĐH (sinh năm 2018), có tài sản là ½ căn hộ chung cư, đây là tài sản chung của ông NV và bà Lê TQ cùng đóng góp để mua, hiện do bà TH và bà TQ đứng tên. Sau đó do mâu thuẫn, hiện ông NV và bà TH không còn chung sống nữa nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề:
Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông NV và bà TH.
Yêu cầu được nuôi dưỡng cháu ĐH, không yêu cầu bà TH cấp dưỡng cho con.
Yêu cầu xác định giá trị của ½ căn hộ chung là tài sản riêng của ông, ½ còn lại do bà TQ quyết định.
Trong quá trình giải quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà TQ có mong muốn sở hữu toàn bộ căn hộ, đồng ý thanh toán số tiền giá trị của ½ căn hộ cho ông NV.
Phán quyết của Tòa án:
Không công nhận quan hệ hôn nhân của ông NV và bà TH.
Giao con chung cho ông NV nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà TH. Bà TH vẫn có quyền của người không trực tiếp nuôi con.
Xác định ½ căn hộ là tài sản riêng của ông NV, chia cho bà TH 30% giá trị tài sản theo sự thỏa thuận giữa hai người. Bà TQ được sở hữu toàn bộ căn hộ chung cư và có nghĩa vụ thanh toán cho ông NV bằng tiền đối với ½ giá trị căn hộ chung cư.
Đây là tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Cần phân biệt rõ giữa loại tranh chấp này với tranh chấp ly hôn. Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì nam nữ có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn sẽ không phát sinh nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, khi khởi kiện cần lưu ý về yêu cầu khởi kiện là yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng chứ không phải yêu cầu ly hôn. Việc xác định đúng yêu cầu khởi kiện là yếu tố quan trọng, tránh tình trạng Tòa án không chấp nhận yêu cầu, trả lại đơn khởi kiện.
Trong trường hợp này quyền, nghĩa vụ của nam, nữ chung sống như vợ chồng đối với con được giải quyết theo quy định giống với quyền, nghĩa vụ đối với con của cha mẹ sau khi ly hôn. Vì cháu ĐH là trẻ chưa thành niên (tính đến thời điểm giải quyết chưa đủ 07 tuổi) nên ông NV và bà TH vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Đối với việc trực tiếp nuôi dưỡng do các bên thỏa thuận, vụ việc này các bên không thỏa thuận được nên Tòa quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Về vấn đề cấp dưỡng thì các bên có thể thỏa thuận.
Vì không phát sinh nghĩa vụ vợ chồng nên không thể xác định căn hộ chung cư là tài sản chung của ông NV và bà TH. Theo Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, nếu không có thỏa thuận thì giải quyết theo Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Ở đây có thể thấy giữa ông NV và bà TH không có thỏa thuận nào về căn hộ chung cư, do đó Tòa án đã xác định đây là tài sản riêng của ông NV (góp mua chung với bà TQ). Không thể xác định đây là tài sản của bà TH dựa vào việc bà là người đứng tên mà phải xem xét đến công sức đóng góp trên thực tế.
Sở dĩ trong vụ việc này nguyên đơn phải nhờ bị đơn đứng tên hộ tài sản căn hộ chung cư của mình là do ông NV là người mang quốc tịch Ba Lan, thủ tục đứng tên sẽ phức tạp hơn, chứ không phải vì không được đứng tên. Khoản 2 Điều 17 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở thương mại của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở qua hình thức mua, thuê mua, đồng thời phải tuân thủ quy định pháp luật về cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam . Ở đây ông NV chứng minh được ông đã mua lại căn hộ chung cư từ chủ đầu tư thông qua chuyển khoản cho ngân hàng nên việc sở hữu nhà ở của ông là hợp pháp.
Bản án đã giải quyết được các vấn đề trong phạm vi khởi kiện một cách công bằng, đúng pháp luật. Việc Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng của nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là hợp lý. Đồng thời, Tòa cũng đã xác định quyền, nghĩa vụ đối với con chung dựa trên các quy định của pháp luật, có xem xét đến quyền lợi của trẻ. Về tài sản, Tòa đã xem xét đầy đủ các chứng cứ, đánh giá khách quan để đi đến kết luận đó là tài sản riêng của nguyên đơn, bị đơn đứng tên hộ, được coi là có công sức chăm nom nên đã công nhận sự tự thỏa thuận giữa hai bên khi chia cho bị đơn 30% giá trị của ½ căn hộ là có căn cứ.
👉 Tham khảo thêm: Tư vấn phân chia tài sản vợ chồng
Nam, nữ chung sống như vợ chồng không mặc nhiên được xác lập quan hệ vợ chồng mà phải đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Khi có tranh chấp xảy ra một bên trong quan hệ này có quyền yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, giải quyết nghĩa vụ về con chung và tài sản. Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến vấn đề người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam, cần đáp ứng được các điều kiện luật định thì mới có thể hợp pháp đứng tên nhà ở.
Chúng tôi trên mạng xã hội