Tranh chấp nhà đất đã tặng cho sang tên khi ly hôn

Thứ ba - 06/10/2026 06:21
Nhà đất đã ký tặng cho và đứng tên riêng của vợ có bị phân chia khi ly hôn? Vàng bạc, xe cộ hay tiền mặt không còn hiện vật thì giải quyết ra sao? Bài viết bình luận chi tiết bản án hôn nhân thực tế giải quyết tranh chấp nhà đất đứng tên riêng sau tặng cho khi ly hôn, giúp bạn nắm rõ quy tắc phân chia tài sản theo công sức tạo lập và nghĩa vụ chứng minh tài sản trước Tòa.
tranh chấp nhà đất đứng tên riêng một người khi ly hôn
tranh chấp nhà đất đứng tên riêng một người khi ly hôn
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Thông tin bản án: Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.
Đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim T (sinh năm 1975; nơi cư trú: số H đường B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng – nay là Phường S, thành phố Cần Thơ).

  • Bị đơn: Ông Hoàng Minh T1 (sinh năm 1968; nơi thường trú: số A đường N, Phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: số H đường B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng – nay là Phường S, thành phố Cần Thơ).

Bà T và ông T1 xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2014, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết, hai bên phát sinh tranh chấp gay gắt về tài sản chung là quyền sử dụng đất và căn nhà thửa đất số 311 diện tích 30,2 m² tại số H đường B cùng hàng loạt động sản khác như ô tô tải, ô tô 4 chỗ, xe mô tô SH, máy cắt nhôm, tiền mặt 915.000.000 đồng và trang sức vàng, kim cương. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận cho hai bên ly hôn; xác định nhà đất số 311 vẫn là tài sản chung của vợ chồng, chia theo tỷ lệ bà T hưởng 60% và ông T1 hưởng 40% giá trị (giao hiện vật cho bà T tiếp tục quản lý, sử dụng và trả chênh lệch bằng tiền cho ông T1); đồng thời không xem xét giải quyết đối với các động sản, tiền mặt và vàng nữ trang do không có tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản đang tồn tại trên thực tế.

👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp tài sản chung

2. Tóm tắt nội dung bản án

Bà Hoàng Thị Kim T và ông Hoàng Minh T1 chung sống với nhau từ năm 1998, đến ngày 20/10/2014 đăng ký kết hôn tại UBND Phường H1, Thành phố S, Tỉnh Sóc Trăng. Quá trình hôn nhân có 02 con chung là Hoàng O, sinh ngày: 11/03/2000 và Hoàng L, sinh ngày: 28/02/2003 đều đã trên 18 tuổi. Đến cuối năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn sâu sắc do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xúc phạm và nghi ngờ lẫn nhau. Ngày 24/6/2024, bà T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn; không yêu cầu giải quyết con chung, nợ chung và ban đầu khai không có tài sản chung.

Ngày 07/11/2024 và 16/12/2024, ông T1 nộp đơn yêu cầu phản tố và đơn bổ sung yêu cầu chia tài sản gồm: Quyền sử dụng đất và căn nhà diện tích 30,2 m² tại thửa 311, tờ bản đồ 30, số H đường B, Phường 8, thành phố Sóc Trăng (cấp ngày 24/9/2013 đứng tên cả hai) với tỷ lệ ông hưởng 60%, bà T hưởng 40%; và 01 máy cắt nhôm trị giá khoảng 130.000.000 đồng. Ngày 30/12/2024, bà T bổ sung yêu cầu chia tài sản gồm 01 xe máy SH (40.000.000 đồng) và nữ trang (78.000.000 đồng) theo tỷ lệ 50/50. Đến ngày 19/02/2025, ông T1 tiếp tục bổ sung yêu cầu phản tố đòi chia thêm: 01 xe tải KIA (tạm tính 300.000.000 đồng), 01 ô tô Toyota Vios (tạm tính 315.000.000 đồng), tiền mặt 915.000.000 đồng (theo bản chụp sổ ghi chép trong điện thoại) và trang sức vàng, kim cương trị giá 238.746.000 đồng theo các hóa đơn mua hàng.

Quá trình xác minh và thẩm định: Đối với bất động sản, nguồn gốc đất do cha mẹ bà T để lại, căn nhà do hai vợ chồng cùng tạo lập từ năm 1999–2000. Ngày 16/5/2022, ông T1 ký hợp đồng tặng cho 50% phần quyền sử dụng đất và nhà ở cho bà T, chỉnh lý sang tên riêng bà T. Tại Tòa án, cả hai đương sự đều thống nhất thừa nhận việc ông T1 ký tặng cho là vì ông thường xuyên đi làm ăn tại Campuchia, việc sang tên nhằm để bà T đứng ra thế chấp vay vốn ngân hàng giải quyết nhu cầu gia đình mà không cần ông T1 phải cùng ký tên, không nhằm mục đích chuyển quyền vĩnh viễn. Chứng thư thẩm định giá ngày 05/8/2025 xác định tổng giá trị nhà đất là 1.410.802.950 đồng (đất ở 1.163.606.000 đồng, nhà ở 247.196.950 đồng). Đối với các động sản khác, các đương sự thừa nhận xe Toyota Vios đã bán từ năm 2018, xe SH bị bán tại Campuchia; tiền mặt đã chi tiêu sinh hoạt gia đình hết; máy cắt nhôm bà T khai đứng tên mua hộ công ty; vàng nữ trang hai bên không xác định được hiện vật và khối lượng thực tế còn lại đang do ai quản lý.

Tại Bản án sơ thẩm số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 21/8/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ quyết định:

  • Chấp nhận cho bà Hoàng Thị Kim T được ly hôn với ông Hoàng Minh T1. Không xem xét giải quyết về con chung và nợ chung do đương sự không yêu cầu.

  • Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông T1: Xác định quyền sử dụng đất và căn nhà diện tích 30,2 m² tại số H đường B là tài sản chung của vợ chồng. Giao toàn bộ nhà và đất cho bà T có toàn quyền sở hữu, quản lý sử dụng; buộc bà T thanh toán cho ông T1 40% giá trị tài sản tương ứng với số tiền 564.321.180 đồng.

  • Không xem xét giải quyết đối với các tài sản là xe ô tô tải, xe ô tô Vios, xe mô tô SH, máy cắt nhôm, tiền mặt và vàng nữ trang, kim cương do không chứng minh được tài sản đang tồn tại trên thực tế; dành quyền cho các bên tiếp tục khởi kiện chia tài sản sau ly hôn bằng vụ án khác khi xác định được tài sản có thực.

3. Bình luận nội dung bản án

3.1 Đánh giá tính có căn cứ về việc xác định quan hệ sở hữu nhà đất

Vấn đề pháp lý trọng tâm của vụ án là xem xét hiệu lực của việc đăng ký đứng tên riêng của người vợ sau khi người chồng đã ký hợp đồng công chứng tặng cho 50% phần quyền sở hữu vào ngày 16/5/2022.

Về mặt hình thức, sau khi đăng ký biến động, bất động sản đứng tên một mình bà T. Tuy nhiên, theo Điều 33, Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc xác định nhà đất là tài sản chung không chỉ căn cứ vào thông tin người đứng tên trên Giấy chứng nhận mà còn xem xét đến nguồn gốc hình thành, quá trình tạo lập và thoả thuận của vợ chồng đối với tài sản đó. Căn cứ quy định về tình tiết không phải chứng minh tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, mặc dù ngày 16/5/2022 Giấy chứng nhận được chỉnh lý sang tên một mình bà T nhưng cả bà T và ông T1 đều thừa nhận giao dịch tặng cho năm 2022 được xác lập xuất phát từ điều kiện thực tế ông T1 thường xuyên làm ăn xa ở Campuchia, nhằm mục đích thuận tiện cho bà T tự đứng tên vay vốn thế chấp ngân hàng phục vụ các chi phí thiết yếu của gia đình. Mục đích thực tế của các bên hoàn toàn không nhằm thỏa thuận phân chia tài sản chung thành tài sản riêng để tước bỏ quyền sở hữu của người chồng. Vì vậy, việc Tòa án đánh giá dựa trên ý chí đích thực của đương sự và tuyên bố khối bất động sản vẫn thuộc chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là giải pháp hoàn toàn chính xác, đúng bản chất pháp lý.

3.2 Tính hợp lý của việc quyết định tỷ lệ phân chia 60:40 và phương thức phân chia hiện vật

Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, nguyên tắc chia tài sản chung là chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì khối tài sản.

Quyết định của Hội đồng xét xử không chia đôi tuyệt đối mà chia cho bà T hưởng 60% và ông T1 hưởng 40% giá trị nhà đất là thấu tình đạt lý và phù hợp với thực tiễn:

Về công sức đóng góp và nguồn gốc: Toàn bộ diện tích đất ở đô thị ban đầu xuất phát từ nguồn gốc do cha mẹ đẻ của bà T để lại. Mặc dù căn nhà do cả hai vợ chồng cùng bỏ chi phí xây dựng, nhưng yếu tố giá trị đất chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng khối tài sản (giá trị đất 1,16 tỷ đồng trên tổng số 1,41 tỷ đồng).

Về sự ổn định chỗ ở và nhu cầu sinh hoạt: Bà T là người thường xuyên ở tại căn nhà, chăm sóc các con và là người quản lý sử dụng chính. Ngược lại, ông T1 không thường xuyên sinh sống tại địa phương mà chủ yếu làm việc tại Campuchia. Có thể thấy rằng, với quy mô diện tích nhà đất tương đối nhỏ hẹp (30,2 m2), việc phân chia bằng hiện vật trên thực địa là khó có khả năng. Do đó, Tòa án giao toàn bộ căn nhà cho bà T sở hữu và buộc hoàn trả 40% giá trị bằng tiền (564.321.180 đồng) cho ông T1 là phương án tối ưu, bảo đảm quyền lợi tài sản cho người chồng mà không làm xáo trộn cuộc sống ổn định của người vợ và con cái.

​​​​​​​3.3 Đánh giá tính chuẩn xác trong việc giải quyết các yêu cầu chia động sản

Đối với các tài sản là ô tô tải, ô tô Vios, xe SH, máy cắt nhôm, tiền mặt và vàng trang sức, kim cương: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ.

Trong vụ án này, các bên có lời khai không thống nhất về tình trạng tồn tại, giá trị và người đang quản lý các tài sản nêu trên; riêng tiền mặt 915 triệu đồng chỉ được ông T1 trình bày dựa trên sổ ghi chép, còn bà T cho rằng số tiền đã được sử dụng cho sinh hoạt gia đình. Đối với vàng, nữ trang và kim cương, các bên cũng không xác định được cụ thể hiện vật và trọng lượng còn lại. Do đó, Tòa án không có đủ căn cứ để xác định tài sản thực tế tại thời điểm xét xử và việc Tòa án không đủ cơ sở để đưa vào khối tài sản phân chia là phù hợp.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn phân chia tài sản vợ chồng

4. Tổng kết

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ là điển hình thực tiễn trong việc giải quyết các vụ án ly hôn có tranh chấp tài sản phức tạp. Phán quyết khẳng định nguyên tắc xác định tài sản chung – riêng của vợ chồng phải căn cứ vào ý chí đích thực và nguồn gốc hình thành tài sản chứ không phụ thuộc tuyệt đối vào hình thức người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi vợ chồng thực hiện các giao dịch chuyển nhượng để xử lý công việc gia đình cũng nên có thỏa thuận xác lập tài sản riêng hoặc chỉ nhằm mục đích ủy quyền vay vốn để tránh phát sinh tranh chấp kéo dài khi hôn nhân rạn nứt.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây