Vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng” được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai ngày 19 tháng 12 năm 2024 thông qua Bản án số 99/2024/KDTM-PT. Vụ án phát sinh do bị đơn là Công ty TNHH G (địa chỉ trụ sở tại khu công nghiệp K, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương) kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 08/2024/KDTM-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn trong vụ án là Harley Technology C., L (đăng ký doanh nghiệp tại Trung Quốc). Vụ tranh chấp xuất phát từ việc hai bên ký kết hợp đồng thuê nhà xưởng nhưng bên cho thuê không thực hiện đúng các cam kết pháp lý về giấy tờ pháp lý của tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy phép môi trường, Phòng cháy chữa cháy), dẫn đến việc bên thuê không thể làm thủ tục đăng ký đầu tư và không thể nhận nhà xưởng để đi vào hoạt động. Qua đó, nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả khoản tiền thuê nhà xưởng đã thanh toán trước.
Diễn biến vụ việc bắt đầu từ ngày 01/6/2023, khi Công ty H (bên thuê) và Công ty G (bên cho thuê) ký Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/2023-ZTDC với thời hạn 10 năm đối với diện tích 10.836 m² tại Bình Dương. Cùng ngày, hai bên ký thỏa thuận bổ sung quy định Công ty G cam kết trong thời hạn 02 tháng phải hoàn tất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy phép môi trường; nếu không thực hiện được làm ảnh hưởng đến việc xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/đăng ký kinh doanh của Công ty H thì Công ty G phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Thực hiện hợp đồng, Công ty H đã chuyển cho Công ty G 109.023 USD tiền cọc và 36.341 USD tiền thuê trước 01 tháng. Tuy nhiên, do Công ty G không được cấp các giấy tờ pháp lý cần thiết như đã cam kết nên Công ty H không thể tiến hành các thủ tục đầu tư và không nhận bàn giao nhà xưởng. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng; Công ty G đã trả lại 109.023 USD tiền cọc nhưng không chịu hoàn trả khoản tiền thuê trả trước 36.341 USD (tương đương 916.265.633 đồng).
Tại Tòa án cấp sơ thẩm (TAND tỉnh Bình Dương), Tòa án đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty H, buộc Công ty G hoàn trả 916.265.633 đồng cùng tiền lãi chậm thi hành án. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty G kháng cáo toàn bộ bản án với lý do không thừa nhận có nhận số tiền 36.341 USD và cho rằng Phiếu thu ngày 01/6/2023 chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nên không phải là chứng cứ hợp lệ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi thẩm tra các chứng cứ và nghe phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm TAND cấp cao tại TP.HCM nhận định: mặc dù bị đơn không thừa nhận nhận tiền, nhưng nguyên đơn đã cung cấp Phiếu thu do Công ty G lập, có đóng dấu và chữ ký của người đại diện theo pháp luật, cùng các chứng từ chuyển khoản ngân hàng phù hợp với nội dung hợp đồng. Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ ngược lại. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
👉 Tham khảo thêm: Tư vấn giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất cho thuê
Xét về mặt pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong bản án này là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành và bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của bên thuê.
Quan hệ giữa hai bên là quan hệ hợp đồng thuê tài sản theo Điều 472 BLDS 2015, đồng thời chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015 theo Điều 4 Luật Thương mại. Hợp đồng đã chấm dứt theo thỏa thuận của các bên trước khi bên cho thuê bàn giao tài sản. Vì vậy, khoản tiền thuê mà bên thuê đã trả trước không còn căn cứ để bên cho thuê tiếp tục giữ lại, bởi tài sản chưa được bàn giao và bên thuê chưa sử dụng tài sản. Theo Điều 427 BLDS 2015, khi hợp đồng chấm dứt, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; đồng thời, Điều 275 BLDS xác định nghĩa vụ hoàn trả có thể phát sinh theo quy định của pháp luật. Do đó, việc Tòa án buộc Công ty G hoàn trả khoản tiền đã nhận cho bên thuê là có cơ sở. Bên cạnh đó, việc bên cho thuê không chuẩn bị đầy đủ giấy tờ pháp lý còn là nguyên nhân dẫn đến việc hợp đồng không thể thực hiện, trong khi thỏa thuận bổ sung cũng ghi nhận quyền yêu cầu bồi thường của bên thuê. Vì vậy, bên cho thuê không có căn cứ hợp lý để tiếp tục giữ khoản tiền này.
Bị đơn không thừa nhận đã nhận khoản tiền thuê, nên theo khoản 1 Điều 91 BLTTDS, nguyên đơn phải có trách nhiệm chứng minh yêu cầu của mình, còn bị đơn nếu không đồng ý thì phải đưa ra chứng cứ để phản bác. Trong vụ án này, Tòa phúc thẩm đánh giá chứng cứ dựa trên nhiều tài liệu có liên quan. Cụ thể, phiếu thu có dấu và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của Công ty G, nội dung phiếu thu phù hợp với thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng và cũng tương đồng với cách thanh toán khoản tiền cọc mà bị đơn đã thừa nhận. Cách đánh giá này phù hợp với Điều 108 BLTTDS, theo đó chứng cứ phải được xem xét một cách khách quan, toàn diện và trong mối liên hệ với các chứng cứ khác.
Tuy nhiên, việc đánh giá chứng cứ của Tòa vẫn còn một số điểm cần xem xét.
Thứ nhất, về việc hợp pháp hóa lãnh sự phiếu thu: Bị đơn cho rằng phiếu thu chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nên không có giá trị. Tuy nhiên, lập luận này chưa phù hợp vì hợp pháp hóa lãnh sự theo Nghị định 111/2011/NĐ-CP chủ yếu áp dụng đối với giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức nước ngoài lập hoặc cấp để sử dụng tại Việt Nam. Trong trường hợp này, phiếu thu do chính Công ty G là pháp nhân Việt Nam lập nên không thuộc trường hợp phải hợp pháp hóa lãnh sự. Vấn đề cần xem xét là phiếu thu có đúng do Công ty G lập hay không, dấu và chữ ký có xác thực hay không, cũng như bản dịch có chính xác hay không. Bản án chưa phân tích rõ các vấn đề này mà chủ yếu nhận định bị đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh ngược lại.
Thứ hai, về bản dịch của phiếu thu: Phiếu thu bằng tiếng nước ngoài nhưng bản dịch chưa được công chứng. Theo Điều 95 BLTTDS và quy định về tài liệu bằng tiếng nước ngoài, tài liệu này về nguyên tắc phải có bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực. Việc Tòa chấp nhận bản dịch với lý do nội dung phù hợp với các tài liệu khác là có thể hiểu được về mặt thực tế, nhưng chưa thật sự chặt chẽ về tố tụng. Tòa nên yêu cầu nguyên đơn bổ sung bản dịch hợp lệ hoặc giải thích rõ lý do chấp nhận bản dịch này. Tuy nhiên, thiếu sót trên chưa làm thay đổi nhiều giá trị chứng minh của phiếu thu, bởi bị đơn không chỉ ra được nội dung nào trong bản dịch là sai, cũng không yêu cầu giám định dấu hoặc chữ ký trên phiếu thu.
Thứ ba, về những tình tiết bị đơn đã thừa nhận: Theo khoản 2 Điều 92 BLTTDS, những tình tiết mà một bên thừa nhận thì bên còn lại không phải chứng minh. Trong vụ án này, bị đơn đã thừa nhận việc ký hợp đồng, nhận tiền cọc và việc chuyển tiền theo thông tin tài khoản của mình. Những tình tiết này là cơ sở để Tòa xem xét cùng với các chứng cứ khác khi đánh giá lời trình bày của nguyên đơn về khoản tiền thuê đã trả. Ngoài ra, Tòa có thể xác minh thêm bằng cách yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê tài khoản của Công ty G tại thời điểm ngày 31/5/2023 và ngày 01/6/2023 theo Điều 97 BLTTDS. Đây sẽ là nguồn chứng cứ trực tiếp và khách quan hơn để xác định Công ty G có thực tế nhận khoản tiền này hay không. Tuy nhiên, bản án chưa thể hiện việc Tòa đã thực hiện biện pháp xác minh này.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh
Bản án số 99/2024/KDTM-PT giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê nhà xưởng có yếu tố nước ngoài. Vấn đề chính của vụ án là việc hoàn trả khoản tiền thuê đã trả trước khi hợp đồng chưa được thực hiện và đã chấm dứt. Tòa phúc thẩm bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm vì nguyên đơn có phiếu thu do chính bị đơn lập, trong khi bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh mình không nhận khoản tiền này. Theo đó, phán quyết của Tòa là có cơ sở, phù hợp với quy định về nghĩa vụ chứng minh, đánh giá chứng cứ và hậu quả pháp lý khi hợp đồng chấm dứt. Qua vụ án có thể thấy, các chứng từ do chính doanh nghiệp lập, có dấu và chữ ký hợp lệ sẽ có giá trị chứng minh quan trọng khi xảy ra tranh chấp. Đồng thời, đối với tài liệu bằng tiếng nước ngoài, các bên cần chú ý thực hiện đúng yêu cầu về dịch thuật, công chứng, chứng thực để hạn chế tranh chấp về giá trị của chứng cứ sau này.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư hòa giải, giải quyết tranh chấp hợp đồng
Chúng tôi trên mạng xã hội