1. Cơ sở pháp lý hiênh hành
- Điều 226 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
- Điều 124, 126, 127, 129, 211, 212 và 213 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022 và 2025): để xác định thế nào là sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, thế nào là hành vi xâm phạm và thế nào là hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ.
- Ngoài ra, căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
….
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
…
Xác định các đối tượng sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, Điều 226 BLHS không hình sự hóa việc xâm phạm tất cả các đối tượng này mà chỉ đề cập trực tiếp tới nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam.
Lưu ý: xâm phạm sáng chế có thể là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhưng không đương nhiên cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 BLHS.
Căn cứ quy định tại Điều 226 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như sau:
Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a)[188] Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc giả mạo chỉ dẫn địa lý, nếu thực hiện với quy mô thương mại hoặc đạt một trong các ngưỡng định lượng luật định thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
|
Yếu tố cấu thành |
Phân tích |
|
Khách thể |
Quan hệ xã hội bảo đảm việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu công nghiệp; trực tiếp là quyền hợp pháp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam, đồng thời ảnh hưởng trật tự quản lý kinh tế và môi trường cạnh tranh. |
|
Đối tượng tác động |
Phải liên quan đến hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý theo Điều 213 Luật SHTT. Đây là điều kiện hẹp hơn so với mọi trường hợp “xâm phạm nhãn hiệu”. |
|
Mặt khách quan |
Có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu/chỉ dẫn địa lý; đối tượng là hàng hóa giả mạo; đồng thời đạt quy mô thương mại hoặc một trong các ngưỡng lợi nhuận, thiệt hại hay giá trị hàng hóa mà Điều 226 quy định. |
|
Chủ thể |
Cá nhân có năng lực TNHS; về nguyên tắc phải từ đủ 16 tuổi đối với tội này. Ngoài cá nhân, pháp nhân thương mại cũng có thể chịu TNHS nếu đáp ứng Điều 75, 76 BLHS. |
|
Mặt chủ quan |
Phải có lỗi cố ý. Người thực hiện biết hoặc nhận thức được việc sử dụng nhãn hiệu/chỉ dẫn địa lý trái quyền nhưng vẫn thực hiện. Động cơ thu lợi thường gặp trong thực tế nhưng không phải trong mọi trường hợp là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. |
- Tuổi chịu TNHS
Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ trường hợp BLHS có quy định khác; Điều 226 không thuộc danh mục các tội mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS.
- Các ngưỡng định tội đối với cá nhân
Theo khoản 1 Điều 226, ngoài trường hợp thực hiện “với quy mô thương mại”, chỉ cần có một trong các trường hợp sau:
thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng;
gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
hàng hóa vi phạm trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Các điều kiện này là các căn cứ thay thế nhau, không phải bắt buộc đồng thời có cả lợi nhuận, thiệt hại và giá trị hàng hóa.
Ví dụ: A cố ý kinh doanh lượng lớn áo gắn nhãn hiệu giả mạo một nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam. Giá trị hàng hóa vi phạm được xác định là 250 triệu đồng. Dù chưa chứng minh được chủ nhãn hiệu bị thiệt hại 200 triệu đồng, dấu hiệu về giá trị hàng hóa vi phạm vẫn có thể là căn cứ định tội nếu các dấu hiệu còn lại của Điều 226 được thỏa mãn.
- Khung tăng nặng
Khoản 2 Điều 226 quy định mức cao hơn nếu phạm tội có tổ chức; phạm tội 2 lần trở lên; thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên; gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 500 triệu đồng trở lên. Hình phạt có thể lên đến 03 năm tù đối với cá nhân.
Điều 129 Luật SHTT bao gồm trường hợp sử dụng không được phép dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa/dịch vụ trùng; dấu hiệu trùng cho hàng hóa/dịch vụ tương tự có khả năng gây nhầm lẫn; dấu hiệu tương tự cho hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự có khả năng gây nhầm lẫn; và những trường hợp nhất định liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng.
Trên thực tế có thể biểu hiện dưới dạng: gắn nhãn hiệu lên sản phẩm hoặc bao bì; đặt hàng sản xuất bao bì giả; bán hoặc chào bán hàng mang nhãn hiệu vi phạm; quảng cáo trên website, Facebook, TikTok hoặc sàn thương mại điện tử; lưu kho để bán; vận chuyển hàng nhằm mục đích bán; hoặc nhập khẩu hàng mang dấu hiệu vi phạm. Những hình thức sử dụng như chào bán, quảng cáo, lưu giữ để bán, vận chuyển và nhập khẩu đều được Điều 124 quy định trong phạm vi sử dụng nhãn hiệu.
Việc sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc thiết kế bố trí đang được bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu trong phạm vi quyền bảo hộ có thể là hành vi xâm phạm theo Điều 126. Luật cũng xác định các hành vi như sản xuất, áp dụng quy trình, khai thác, lưu thông, quảng cáo, chào bán, lưu giữ để lưu thông và nhập khẩu là các hình thức sử dụng tương ứng.
Lưu ý: những hành vi này có thể bị xử lý dân sự hoặc hành chính nhưng không vì thế mà trở thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226, bởi Điều 226 chỉ đề cập nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.
Xâm phạm có thể biểu hiện ở việc tiếp cận hoặc thu thập bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật; tiết lộ hoặc sử dụng bí mật kinh doanh mà không được phép; vi phạm hợp đồng bảo mật; hoặc sử dụng thủ đoạn lừa dối, mua chuộc, ép buộc… để tiếp cận, thu thập hoặc làm lộ bí mật kinh doanh.
Sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại được sử dụng trước đó cho cùng hoặc tương tự loại sản phẩm, dịch vụ, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về chủ thể, cơ sở hoặc hoạt động kinh doanh, có thể cấu thành hành vi xâm phạm.
Trong một vụ kiểm tra cửa hàng, kho hàng, xưởng sản xuất hoặc hoạt động bán hàng online, có thể đi theo chuỗi kiểm tra sau.
Thứ nhất, kiểm tra quyền có thực sự được bảo hộ tại Việt Nam hay không. Phải xác định nhãn hiệu/chỉ dẫn địa lý cụ thể, chủ thể quyền, phạm vi hàng hóa/dịch vụ, thời hạn và tình trạng hiệu lực. Nếu nhãn hiệu không được bảo hộ tại Việt Nam thì về nguyên tắc thiếu một dấu hiệu rất quan trọng của Điều 226, vì điều luật yêu cầu quyền đang được bảo hộ tại Việt Nam.
Thứ hai, kiểm tra dấu hiệu trên hàng hóa. Không chỉ nhìn xem nó “na ná” thương hiệu thật mà phải xác định có phải dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu được bảo hộ dùng cho chính hàng hóa đó hay không. Đây là tiêu chí quan trọng để xác định “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu” theo Điều 213.
Ví dụ, một logo chỉ hơi giống nhãn hiệu X và có khả năng làm người tiêu dùng nhầm lẫn có thể đã xâm phạm theo Điều 129, nhưng nếu chưa đạt mức “trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt” theo Điều 213 thì chưa thể chỉ từ đó kết luận đối tượng của Điều 226 đã được thỏa mãn.
Thứ ba, xác định người sử dụng có quyền hay được phép hay không. Cần kiểm tra hợp đồng li-xăng, hợp đồng phân phối, quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc hàng hóa và phạm vi ủy quyền. Hàng thật do chủ sở hữu đưa ra thị trường rồi được bán lại sẽ khác về bản chất với việc tự sản xuất sản phẩm rồi tự ý gắn nhãn hiệu của người khác.
Thứ tư, tìm chứng cứ về lỗi cố ý. Trên thực tế, lỗi cố ý có thể được suy ra từ tổng hợp chứng cứ như việc tự đặt in tem nhãn giả; mua riêng sản phẩm không nhãn và bao bì mang thương hiệu; chỉ đạo nhân viên đóng gói; che giấu xưởng sản xuất; thay đổi kho sau khi bị kiểm tra; tiếp tục bán sau khi đã nhận cảnh báo của chủ thể quyền; đã từng bị xử lý; tin nhắn đặt hàng; hóa đơn; tài liệu hướng dẫn nhân viên; tài khoản bán hàng hoặc dữ liệu giao dịch. Tuy nhiên, việc kết luận lỗi thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng dựa trên toàn bộ chứng cứ, chứ không thể dựa vào một biểu hiện đơn lẻ.
Thứ năm, lượng hóa quy mô của hành vi. Cơ quan xử lý sẽ đặc biệt quan tâm số lượng hàng, giá trị hàng hóa vi phạm, doanh thu, lợi nhuận bất chính, thiệt hại của chủ thể quyền, thời gian hoạt động, số điểm bán, mạng lưới phân phối và cách thức tổ chức. Điều 226 cho phép định tội khi có quy mô thương mại hoặc đạt một trong các ngưỡng tiền nêu trên.
Riêng thuật ngữ “quy mô thương mại” là điểm từng phát sinh khó khăn trong thực tiễn bởi bản thân Điều 226 không ấn định một con số duy nhất để xác định thế nào là quy mô thương mại. Vì vậy không nên hiểu đơn giản rằng cứ bán “X sản phẩm” là đương nhiên đạt quy mô thương mại; phải đánh giá bản chất và quy mô hoạt động kinh doanh cùng các chứng cứ cụ thể. Các tài liệu nghiên cứu và tổng kết thực tiễn của cơ quan nhà nước cũng đã ghi nhận khó khăn trong cách hiểu tiêu chí này.
- “xâm phạm nhãn hiệu” chưa chắc đã là tội phạm.
- Điều 129 Luật SHTT quy định phạm vi xâm phạm nhãn hiệu khá rộng. Chẳng hạn, khi không được phép của chủ sở hữu, việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu cho hàng hóa/dịch vụ trùng; sử dụng dấu hiệu trùng trên hàng hóa/dịch vụ tương tự có khả năng gây nhầm lẫn; hoặc sử dụng dấu hiệu tương tự trên hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự có khả năng gây nhầm lẫn có thể là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
- Nhưng để truy cứu theo Điều 226 BLHS, luật còn yêu cầu đối tượng phải là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc giả mạo chỉ dẫn địa lý. Điều 213 Luật SHTT xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa hoặc bao bì mang nhãn hiệu, dấu hiệu hoặc nhãn có dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó, mà việc gắn dấu hiệu được thực hiện không có sự cho phép của chủ sở hữu. Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý cũng được xác định theo tiêu chí tương tự.
Bài viết mang tính chất tham khảo pháp lý. Mục đích của bài viết nhằm cung cấp các kiến thức pháp lý nền tảng, giúp độc giả có cái nhìn tổng quan và dễ dàng tiếp cận hơn với các quy định của pháp luật. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định, hành động pháp lý hay xác lập giao dịch nào, kính khuyến nghị Quý khách hàng liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư, chuyên gia pháp lý của chúng tôi để được cung cấp giải pháp tư vấn chuyên sâu.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội