Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025 về giải thích tình trạng mất khả năng thanh toán như sau:
Điều 5. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
2. Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
…
⇒ Để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, cần hội tụ đủ 03 đặc điểm:
• Có tồn tại một khoản nợ: Đây phải là khoản nợ hợp pháp, rõ ràng, không có tranh chấp (ví dụ: nợ tiền hàng, nợ lương, nợ vay ngân hàng, nợ thuế).
• Khoản nợ đã đến hạn thanh toán: Thời hạn thanh toán được xác định theo hợp đồng, thỏa thuận giữa các bên hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án.
• Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán quá 06 tháng: Việc “không thực hiện” có thể do doanh nghiệp không có tiền để trả (mất thanh khoản thực sự) hoặc có tiền nhưng cố tình chây ì không trả. Pháp luật không quan tâm đến lý do, chỉ cần quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn mà chủ nợ có yêu cầu nhưng doanh nghiệp không trả được nợ, thì bị coi là mất khả năng thanh toán.
Tham khảo thêm: Dịch vụ làm thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho những chủ thể có quyền lợi liên quan trực tiếp nhằm tự bảo vệ mình.
- Căn cứ quy định tại Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 về người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản như sau:
Điều 38. Người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản
1. Người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm:
a) Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần;
b) Người lao động, công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán;
c) Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn trong trường hợp Điều lệ công ty quy định;
d) Thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 65% tổng số vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn trong trường hợp Điều lệ công ty quy định;
đ) Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã.
2. Những người sau đây có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi:
a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã;
b) Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Hội đồng thành viên của công ty hợp danh;
c) Đại hội thành viên của hợp tác xã;
d) Chủ doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
3. Cơ quan quản lý thuế phải nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Chính phủ quy định điều kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.
4. Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã khi cơ quan bảo hiểm xã hội đã thông báo đôn đốc đối với khoản chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế nhưng không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
5. Cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này không nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp người quy định tại khoản 2 Điều này không nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản mà có thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn gây ra thì phải bồi thường.
6. Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn khoản 2 Điều này.
⇒ Chủ thể có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản, bao gồm:
+ Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần
+ Doanh nghiệp chậm thanh toán lương và các khoản nợ khác đã đến hạn quá 06 tháng
+ Nhà đầu tư/chủ sở hữu nội bộ:
• Công ty Cổ phần: Cổ đông/nhóm cổ đông phải nắm giữ từ 20% cổ phần phổ thông trở lên (hoặc thấp hơn theo Điều lệ).
• Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Thành viên/nhóm thành viên phải nắm giữ từ 65% vốn điều lệ (hoặc thấp hơn theo Điều lệ).
+ Trong trường hợp đặc biệt, khi đã thông báo đôn đốc đối với khoản chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế nhưng không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế thì cơ quan BHXH có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Ngoài ra, chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, bao gồm:
+ Ban lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp: Người đại diện theo pháp luật, Hội đồng quản trị (CTCP), Hội đồng thành viên (Công ty TNHH/Hợp danh), Đại hội thành viên (Hợp tác xã) và các chủ sở hữu doanh nghiệp.
Lưu ý: Không phải nộp đơn phá sản nếu họ đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.
+ Cơ quan quản lý thuế (theo quy định Luật Quản lý thuế)
Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP về người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Hội đồng thẩm phán TANDTC như sau:
Điều 4. Về người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật Phục hồi, phá sản; người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật Phục hồi, phá sản
…
4. Người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 của Luật Phục hồi, phá sản thì Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty hợp danh hoặc người khác theo quy định của Điều lệ công ty, theo quyết định của Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Hội đồng thành viên của công ty hợp danh tự mình nộp đơn hoặc ủy quyền cho người khác nộp đơn.
Người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 38 của Luật Phục hồi, phá sản thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người khác theo quyết định của Đại hội thành viên của hợp tác xã, theo quy định của Điều lệ của hợp tác xã tự mình nộp đơn hoặc ủy quyền cho người khác nộp đơn.
⇒ Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên là cơ quan ra quyết định (thông qua việc họp và biểu quyết). Khi tập thể này thống nhất được (hoặc bị pháp luật bắt buộc) việc phải mở thủ tục phá sản, ý chí đó phải được giao cho một cá nhân cụ thể để thực thi (ký đơn, nộp hồ sơ, đóng tạm ứng án phí, làm việc với Thẩm phán).
Lưu ý: Về việc ủy quyền nộp đơn, dù ủy quyền cho người khác đi nộp, trách nhiệm pháp lý về tính trung thực của hồ sơ phá sản vẫn thuộc về người ủy quyền (Chủ doanh nghiệp). Việc ủy quyền chỉ là chuyển giao công việc thực hiện thay, không phải là chuyển giao/chối bỏ trách nhiệm.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định chế tài xử phạt vi phạm nghĩa vụ nộp đơn tại khoản 5 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản thì nếu không nộp thì sẽ phải chịu các hậu quả pháp lý như sau:
• Phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
• Nếu những người quản lý không nộp đơn phá sản, dẫn đến việc doanh nghiệp tiếp tục ký hợp đồng, mua chịu hàng hóa của đối tác và gây ra thiệt hại sau thời điểm mất khả năng thanh toán, họ sẽ phải dùng tài sản cá nhân của mình để bồi thường cho những thiệt hại đó. Đây là biện pháp để quy trách nhiệm trực tiếp cho cá nhân điều hành.
Bài viết mang tính chất tham khảo pháp lý. Mục đích của bài viết nhằm cung cấp các kiến thức pháp lý nền tảng, giúp độc giả có cái nhìn tổng quan và dễ dàng tiếp cận hơn với các quy định của pháp luật. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định, hành động pháp lý hay xác lập giao dịch nào, kính khuyến nghị Quý khách hàng liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư, chuyên gia pháp lý của chúng tôi để được cung cấp giải pháp tư vấn chuyên sâu.
Tham khảo thêm: Tư vấn thủ tục tuyên bố doanh nghiệp phá sản
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Tình trạng mất khả năng thanh toán và yêu cầu mở thủ tục phá sản nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Tình trạng mất khả năng thanh toán và yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội