Điều kiện bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích

Thứ ba - 09/06/2026 22:30
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc tạo ra một giải pháp kỹ thuật mới để giải quyết một vấn đề thực tiễn có thể mang lại lợi thế cạnh tranh khổng lồ cho doanh nghiệp. Để độc quyền khai thác thành quả này, chủ thể sáng tạo cần đăng ký bảo hộ. Bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Tô Đình Huy sẽ phân tích các điều kiện để được cấp văn bằng cho từng đối tượng.
Điều kiện bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích
Điều kiện bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích
Mục lục

1. Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ như sau:

Điều 58. Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

⇒ Theo quy định trên, một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng đủ 03 điều kiện vô cùng khắt khe sau đây:

• Có tính mới;

• Có trình độ sáng tạo;

• Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Bên cạnh đó, giải pháp hữu ích được bảo hộ khi đáp ứng 02 điều kiện sau:

• Có tính mới;

• Có khả năng áp dụng công nghiệp.

👉 Tham khảo thêm: Dịch vụ đăng ký cấp văn bằng bảo hộ

Trong đó:

- Có tính mới: Căn cứ quy định tại Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Điều 60. Tính mới của sáng chế

1. Sáng chế được coi là có tính mới nếu không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên;

b) Bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế đó.

2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ.

4. Quy định tại khoản 3 Điều này cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.

Một sáng chế được coi là có tính mới nếu nó chưa bị bộc lộ công khai dưới bất kỳ hình thức nào (sử dụng, mô tả bằng văn bản, triển lãm, đăng báo...) ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký (hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên).

Lưu ý: Nếu chính tác giả tự mang sản phẩm đi triển lãm hoặc công bố trên tạp chí khoa học, tác giả chỉ có thời gian ân hạn là 12 tháng kể từ ngày bộc lộ để nộp đơn. Quá thời hạn này, sáng chế sẽ bị coi là mất tính mới.

- Có trình độ sáng tạo: Căn cứ Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Điều 61. Trình độ sáng tạo của sáng chế

1. Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

2. Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bộc lộ theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 60 của Luật này không được lấy làm cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế đó.

Trình độ sáng tạo đòi hỏi giải pháp đó phải là một bước tiến kỹ thuật đột phá, không thể được tạo ra một cách dễ dàng hoặc hiển nhiên đối với một người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Nó không thể chỉ là sự lắp ghép đơn thuần của các giải pháp đã biết.

- Có khả năng áp dụng công nghiệp: Căn cứ Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Điều 62. Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

Giải pháp kỹ thuật đó không được là một ý tưởng viển vông trên giấy. Nó phải có tính khả thi để chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình đó trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y tế... và thu được kết quả ổn định, giống nhau trong mỗi lần thực hiện.

2. Điểm giống và khác nhau giữa sáng chế và giải pháp hữu ích

Điểm giống:

Giải pháp hữu ích vẫn phải tuyệt đối tuân thủ tiêu chuẩn về “Tính mới” và “Khả năng áp dụng công nghiệp” y hệt như Sáng chế. Nó phải là giải pháp lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới và có thể sản xuất hàng loạt.

Điểm khác:

- “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường…” - Đây là điểm khác biệt lớn nhất giúp phân định Sáng chế và Giải pháp hữu ích. Thay vì đòi hỏi “trình độ sáng tạo” (có thể hiểu là bước tiến kỹ thuật lớn), Giải pháp hữu ích chỉ yêu cầu giải pháp đó không phải là hiểu biết thông thường đối với người có chuyên môn trung bình trong lĩnh vực tương ứng. Nghĩa là, nó chỉ cần là một sự cải tiến nhỏ, thay đổi cấu trúc hoặc cách thức vận hành giúp thiết bị hoạt động hiệu quả hơn, miễn là chưa ai từng làm trước đó.

- Về thời hạn bảo hộ: Sự khác biệt về điều kiện cấp phép dẫn đến quyền lợi cũng khác nhau. Bằng độc quyền Sáng chế có hiệu lực 20 năm, trong khi Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích chỉ có hiệu lực 10 năm tính từ ngày nộp đơn).

3. Các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế, giải pháp hữu ích

Căn cứ quy định tại Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế như sau:

Điều 59. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

1. Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;

2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;

3. Cách thức thể hiện thông tin;

4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

5. Giống thực vật, giống động vật;

6. Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

Dù có mới mẻ và sáng tạo đến đâu, pháp luật quy định một lằn ranh giới hạn những đối tượng không được coi là sáng chế để bảo vệ sự phát triển chung của khoa học, văn hóa và đạo đức. Theo quy định trên, các đối tượng sau đây tuyệt đối không được cấp bằng:

• Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học (Ví dụ: Định lý Pytago, thuyết tương đối).

• Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh (Ví dụ: Luật chơi cờ vua, mô hình kinh doanh đa cấp).

• Chương trình máy tính (Mã nguồn phần mềm được bảo hộ theo cơ chế Quyền tác giả, không phải Sáng chế).

• Cách thức thể hiện thông tin.

• Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ (Kiểu dáng bên ngoài sẽ được bảo hộ bằng cơ chế Kiểu dáng công nghiệp).

• Giống thực vật, giống động vật.

• Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh.

• Phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh và chữa bệnh cho người và động vật (Để đảm bảo tính nhân đạo, y bác sĩ trên toàn thế giới có quyền tự do áp dụng các phác đồ chữa bệnh để cứu người mà không sợ vi phạm bản quyền).

ChatGPT Image Jun 10, 2026, 09 30 47 AM
Hình ảnh. VPLS Tô Đình Huy (AI)

Bài viết mang tính chất tham khảo pháp lý. Toàn bộ nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo chung và không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý chính thức dành cho bất kỳ hồ sơ hay hoàn cảnh cụ thể nào. Do đó, để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh những rủi ro đáng tiếc do việc tự ý diễn giải pháp luật, Quý khách hàng không nên áp dụng máy móc các thông tin trong bài viết vào trường hợp thực tế của mình. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định, hành động pháp lý hay xác lập giao dịch nào, kính khuyến nghị Quý khách hàng liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư, chuyên gia pháp lý của chúng tôi để được cung cấp giải pháp tư vấn chuyên sâu, an toàn và cá nhân hóa nhất.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Điều kiện bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Điều kiện bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây