Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của cá nhân đối với tài sản. Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.”. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền này theo quy định tại Điều 610 BLDS 2015.
Người thừa kế có tư cách pháp lý đặc biệt là chủ thể hưởng quyền. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay người bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự đều có quyền hưởng di sản thừa kế. Điều này đảm bảo quyền lợi tối đa cho mọi cá nhân trong xã hội.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư hướng dẫn về thừa kế
Đây là điều kiện tiên quyết để xác định một người có quyền nhận di sản hay không. Căn cứ Điều 613 BLDS 2015:
“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”
+ Đối với cá nhân: Nếu được sinh ra trước khi người để lại di sản chết thì phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp thai nhi đang trong bụng mẹ, pháp luật yêu cầu phải thành thai trước khi người có tài sản chết và khi sinh ra phải còn sống. Việc xác định "sinh ra và còn sống" được hiểu là thai nhi đã tách khỏi cơ thể mẹ và duy trì sự sống độc lập, bất kể thời gian sống là bao lâu.
+ Đối với cơ quan, tổ chức: Phải được thành lập hợp pháp và chưa chấm dứt hoạt động tại thời điểm mở thừa kế. Nếu tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm này, phần di chúc liên quan sẽ không có hiệu lực.
Tùy vào hình thức thừa kế mà điều kiện về mối quan hệ sẽ khác nhau:
3.1. Thừa kế theo pháp luật
Người thừa kế phải thuộc các hàng thừa kế quy định tại Điều 651 BLDS 2015:
“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.
Hàng thừa kế thứ hai và thứ ba được xác định dựa trên quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng xa hơn (ông bà, anh chị em, cô dì chú bác...). Người ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối.
3.2. Thừa kế theo di chúc
Người nhận di sản là bất kỳ ai (cá nhân hoặc tổ chức) được người lập di chúc chỉ định theo ý chí tự nguyện của họ. Theo Điều 626 BLDS 2015, người lập di chúc có quyền: “1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. 2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế...”.
Một người dù có tên trong di chúc hoặc thuộc hàng thừa kế theo pháp luật nhưng sẽ không được nhận di sản nếu vi phạm các điều cấm tại khoản 1 Điều 621 BLDS 2015:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Ngoại lệ: Theo khoản 2 Điều 621, những người này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Người thừa kế có quyền tự nguyện không nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác. Căn cứ Điều 620 BLDS 2015: “1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản... 2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác... 3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”.
6.1. Thực hiện nghĩa vụ tài sản
Người thừa kế chỉ được nhận phần di sản còn lại sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ của người chết để lại. Điều 615 BLDS 2015 quy định: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”. Nếu di sản không đủ thanh toán nợ, người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn giá trị di sản nhận được.
6.2. Thời hiệu thừa kế
Để bảo vệ quyền lợi, người thừa kế phải thực hiện quyền yêu cầu chia di sản trong thời hạn luật định. Theo Điều 623 BLDS 2015: “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.”. Nếu quá thời hạn này mà không có yêu cầu, quyền sở hữu có thể bị triệt tiêu hoặc di sản thuộc về người đang quản lý hoặc Nhà nước.
Việc nhận di sản thừa kế là sự kết hợp giữa ý chí cá nhân, quy định của pháp luật và các sự kiện khách quan. Người thừa kế cần đáp ứng các điều kiện về sự tồn tại (còn sống/còn tồn tại), mối quan hệ hợp pháp, không vi phạm đạo đức pháp lý và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài sản trong thời hiệu cho phép. Các quy định từ Điều 609 đến Điều 662 BLDS 2015 giúp đảm bảo di sản được phân chia minh bạch, đúng pháp luật và tôn trọng ý nguyện người đã khuất.
👉 Tham khảo thêm: Tư vấn cách chia tài sản thừa kế theo quy định pháp luật
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Điều kiện để người thừa kế nhận di sản nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Điều kiện để người thừa kế nhận di sản chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Chúng tôi trên mạng xã hội