Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định hợp đồng lao động như sau:
Điều 13. Hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.…
Như vậy, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động cùng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Viên chức 2025 quy định hợp đồng làm việc như sau:
Điều 20. Hợp đồng làm việc đối với viên chức
1. Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng vào làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan.
…
Như vậy, hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức (hoặc người trúng tuyển viên chức) với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc.
Nhìn chung, hợp đồng lao động và hợp đồng làm việc đều là hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ làm việc giữa các bên, ghi nhận những nội dung mà các bên đã thỏa thuận, đồng thời xác định quyền, nghĩa vụ và các điều kiện thực hiện công việc trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, sự khác biệt lại chính là môi trường áp dụng. Vì hợp đồng lao động điều chỉnh quan hệ việc làm tự do tại các doanh nghiệp, tổ chức; còn hợp đồng làm việc chỉ áp dụng riêng cho nhân sự làm việc tại các đơn vị công lập như trường học, bệnh viện nhà nước.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư về lao động giỏi
Tiêu chí phân biệt |
Hợp đồng lao động |
Hợp đồng làm việc |
Căn cứ pháp lý áp dụng |
Bộ luật Lao động năm 2019 |
Luật Viên chức năm 2025 (Luật số 129/2025/QH15) |
Chủ thể tham gia |
Người lao động và Người sử dụng lao động (doanh nghiệp, tổ chức tư nhân, cá nhân) |
Viên chức (người trúng tuyển) và Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập |
Bản chất xác lập quan hệ |
Thỏa thuận việc làm tự do theo nhu cầu tuyển dụng của thị trường |
Gắn chặt với vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp trong hệ thống công lập |
Hình thức giao kết |
Văn bản, thông điệp dữ liệu điện tử, hoặc bằng lời nói (áp dụng cho công việc dưới 01 tháng) |
Bắt buộc bằng văn bản (đồng bộ quản lý trên cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức) |
Phân loại hợp đồng |
• Hợp đồng không xác định thời hạn
|
• Hợp đồng làm việc xác định thời hạn
|
Cơ chế tiền lương ghi nhận |
Thỏa thuận mức lương cụ thể, bảo đảm không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng |
Trả theo vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và mức độ tự chủ, kết quả hoạt động tài chính của đơn vị |
Đánh giá & chấm dứt hợp đồng |
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do, chỉ cần báo trước theo luật định |
Đánh giá sát sao theo KPI/kết quả thực hiện nhiệm vụ; cơ chế chấm dứt gắn với trách nhiệm công vụ và căn cứ luật định |
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp |
Hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động, Tòa án nhân dân |
Cơ quan cấp trên quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, Tòa án nhân dân |
- Về phạm vi điều chỉnh:
Hợp đồng lao động chịu sự điều chỉnh trực tiếp của BLLĐ 2019, thiết lập quan hệ việc làm thuần túy mang tính chất dân sự – kinh tế giữa người làm công ăn lương và người sử dụng lao động ngoài khu vực nhà nước.
Hợp đồng làm việc vận hành theo khuôn khổ của Luật Viên chức năm 2025 xác lập cơ chế quản lý nhân lực đặc thù trong khu vực công, gắn liền trực tiếp với hoạt động nghề nghiệp và việc cung ứng dịch vụ công ích của Nhà nước.
- Về cơ chế đãi ngộ và cấu trúc tiền lương:
Trong hợp đồng lao động, tiền lương vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường thông qua sự thương lượng giữa hai bên, chỉ chịu sự ràng buộc bởi mức sàn lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố.
Hợp đồng làm việc theo Luật Viên chức năm 2025 theo nguyên tắc trả lương theo vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ thực tế. Thu nhập của viên chức không còn mang tính cào bằng theo thâm niên truyền thống mà gắn chặt với đề án vị trí việc làm cùng mức độ tự chủ tài chính của từng đơn vị sự nghiệp công lập.
- Về tính ràng buộc và quyền đơn phương chấm dứt của người đi làm:
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do, chỉ cần đáp ứng đúng thời hạn báo trước theo luật định.
Ngược lại, do tính chất đặc thù đòi hỏi sự ổn định, liên tục của dịch vụ công, Luật Viên chức vẫn duy trì cơ chế ràng buộc chặt chẽ: viên chức khi muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc bắt buộc phải căn cứ vào các trường hợp luật định rõ ràng đi kèm nghĩa vụ báo trước, tránh gây xáo trộn hoặc làm gián đoạn hoạt động chuyên môn của đơn vị.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư chuyên về lao động tại Tp.Hồ Chí Minh
Không phải cứ làm việc tại trường học công lập, bệnh viện nhà nước hay viện nghiên cứu là đương nhiên được ký Hợp đồng làm việc. Căn cứ theo Nghị định số 111/2022/NĐ-CP (về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập), loại hợp đồng được giao kết phụ thuộc trực tiếp vào tính chất vị trí việc làm:
+ Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ (bác sĩ, giáo viên, giảng viên, nghiên cứu viên...): Bắt buộc phải qua quy trình thi tuyển/xét tuyển viên chức và ký Hợp đồng làm việc theo Luật Viên chức.
+ Vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ (nhân viên bảo vệ, tạp vụ, lao công, lái xe, văn thư, lễ tân...): Đơn vị sự nghiệp công lập bắt buộc phải ký Hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, tuyệt đối không áp dụng chế độ viên chức hay ký Hợp đồng làm việc cho nhóm này.
**Sự khác biệt về chế độ đối với nhóm làm công việc phục vụ:
+ Về chế độ tiền lương: Cô lao công, chú bảo vệ hưởng mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động ký với đơn vị (hoặc công ty dịch vụ cung cấp nhân sự) và tuân thủ mức lương tối thiểu vùng theo Bộ luật Lao động, không xếp theo hệ số lương hay ngạch/bậc viên chức.
+ Về quyền chấm dứt hợp đồng: Nhóm nhân sự này được áp dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do (chỉ cần báo trước theo Điều 35 BLLĐ 2019), không bị ràng buộc bởi các điều kiện luật định khắt khe của Luật Viên chức.
Nhiều đơn vị sự nghiệp công lập vẫn nhầm lẫn trong việc tuyển dụng nhóm việc làm hỗ trợ, phục vụ rồi tự ý áp dụng chế độ tuyển dụng viên chức hoặc giao kết hợp đồng không đúng biểu mẫu pháp luật. Việc ký sai loại hợp đồng sẽ dẫn đến sai lệch trong việc trích nộp kinh phí, kiểm toán quỹ lương và gây thiệt hại về quyền lợi bảo hiểm, giải quyết tranh chấp lao động khi có phát sinh.
Thông tin trong bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp và cập nhật kiến thức pháp luật chung cho độc giả. Các nội dung này không phải ý kiến tư vấn pháp lý chuyên sâu và không được áp dụng cho bất kỳ trường hợp hay vụ việc cụ thể nào. Quy định pháp luật có thể thay đổi và việc áp dụng luật luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Độc giả vui lòng liên hệ với luật sư hoặc chuyên gia pháp lý tại Văn phòng luật sư Tô Đình Huy để được tư vấn cụ thể cho tình huống của mình trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề PHÂN BIỆT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LÀM VIỆC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. các thông tin trong chuyên đề PHÂN BIỆT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LÀM VIỆC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Chúng tôi trên mạng xã hội