Tiền bảo hiểm nhân thọ không đương nhiên được xem là di sản thừa kế. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015:
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Đặc điểm của di sản thừa kế là khối tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người để lại di sản tại thời điểm mở thừa kế, thời điểm người đó chết theo Điều 611 và Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015. Với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, khoản tiền bồi thường được chi trả không phải là tài sản có sẵn trong khối tài sản của người được bảo hiểm khi họ còn sống. Khoản tiền này chỉ phát sinh sau khi sự kiện bảo hiểm là cái chết của người được bảo hiểm xảy ra, trên cơ sở quan hệ nghĩa vụ hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và các bên tham gia.
Khoản 26 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 định nghĩa:
Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Đồng thời, Điều 41 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 quy định quyền chỉ định và thay đổi người thụ hưởng:
- Khi một người được chỉ định hợp pháp làm người thụ hưởng, quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm là quyền tài sản độc lập phát sinh từ hợp đồng, thuộc về chính người thụ hưởng đó.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng chứ không chuyển giao qua khối tài sản của người đã khuất.
Do đó, nếu hợp đồng đã có người thụ hưởng hợp lệ, khoản tiền này không thỏa mãn điều kiện cấu thành di sản thừa kế của người được bảo hiểm theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015.
Và để xác định đúng quyền nhận tiền, cần phân biệt bốn chủ thể trong quan hệ bảo hiểm nhân thọ và thừa kế:
- Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm thực hiện các quyền theo pháp luật và hợp đồng, trong đó có quyền chỉ định người thụ hưởng theo Điều 41 của Luật này (khoản 24 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022).
- Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích được bảo hiểm theo hợp đồng. Trong bảo hiểm nhân thọ, cái chết của người được bảo hiểm có thể làm phát sinh nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm nếu đáp ứng điều kiện của hợp đồng và pháp luật (khoản 25 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022).
- Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo khoản 26 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Người này có thể đồng thời là người thừa kế, nhưng cũng có thể là người không thuộc hàng thừa kế của người được bảo hiểm. Quyền nhận tiền được xác định theo hợp đồng bảo hiểm và quy định pháp luật có liên quan. Người thụ hưởng nhận tiền theo thỏa thuận hợp đồng, không phụ thuộc vào việc họ có hay không có quan hệ huyết thống, hôn nhân hay thuộc hàng thừa kế theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản tiền này thuộc quyền sở hữu riêng của người thụ hưởng; những người thuộc hàng thừa kế của người được bảo hiểm không có quyền yêu cầu trích chia hay cấn trừ vào nghĩa vụ trả nợ của người chết.
- Người thừa kế là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Quyền hưởng di sản được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015, trong đó có Điều 613 về người thừa kế và Điều 651 về người thừa kế theo pháp luật. Tư cách người thừa kế không tự động làm phát sinh quyền nhận khoản tiền bảo hiểm đã được xác định chi trả cho người thụ hưởng hợp lệ.
👉 Tham khảo thêm: Hướng dẫn khai nhận di sản thừa kế tại TP HCM
Để xác định chính xác khoản tiền chi trả, cần xem xét từng tình huống cụ thể gắn liền với hợp đồng bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm trực tiếp cho người thụ hưởng được ghi nhận trên hợp đồng hoặc văn bản thay đổi người thụ hưởng đã được công ty bảo hiểm xác nhận trước thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Để xác định tỷ lệ khi có nhiều người thụ hưởng, căn cứ khoản 2 Điều 41 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, nếu hợp đồng có nhiều người thụ hưởng nhưng không xác định rõ tỷ lệ hưởng của từng người, thì tiền bảo hiểm được chia đều cho tất cả những người thụ hưởng này. Trường hợp bên mua bảo hiểm chỉ định nhiều người thụ hưởng kèm tỷ lệ hoặc thứ tự cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm chi trả theo đúng tỷ lệ thỏa thuận đó.
Khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không chỉ định người thụ hưởng, hoặc người thụ hưởng chết trước hay cùng thời điểm với người được bảo hiểm, việc xác định chủ thể nhận tiền bảo hiểm cần căn cứ trước hết vào quy tắc, điều khoản hợp đồng và các văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng hợp lệ. Điều 41 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 quy định về việc chỉ định, thay đổi người thụ hưởng nhưng không thiết lập một cơ chế thay thế chung áp dụng cho tất cả các trường hợp khuyết người thụ hưởng.
- Trường hợp không chỉ định người thụ hưởng: cần kiểm tra hợp đồng có quy định về chủ thể nhận quyền lợi trong tình huống này hay không. Nếu có, việc chi trả được xem xét theo điều khoản tương ứng và quy định pháp luật áp dụng. Nếu hợp đồng không quy định rõ, cần giải thích hợp đồng theo Điều 404 Bộ luật Dân sự 2015 và xác định quyền, lợi ích của các bên trên cơ sở nội dung thỏa thuận cùng các quy định có liên quan; không mặc nhiên xác định người thừa kế của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm là người nhận tiền.
- Trường hợp người thụ hưởng chết trước người được bảo hiểm: cần xác định bên mua bảo hiểm có thay đổi người thụ hưởng hay không và hợp đồng có quy định người thụ hưởng thay thế không. Nếu không có người thay thế, phải tiếp tục xem xét điều khoản về việc chi trả khi người thụ hưởng không còn sống tại thời điểm phát sinh quyền lợi bảo hiểm, thay vì mặc nhiên chuyển quyền nhận tiền cho người thừa kế của người thụ hưởng đã chết.
- Trường hợp người thụ hưởng chết cùng thời điểm với người được bảo hiểm: cần phân biệt quyền nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng với quyền thừa kế. Điều 619 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này.
Theo đó, những người có quyền thừa kế di sản của nhau chết cùng thời điểm thì không được thừa kế di sản của nhau, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo Điều 652. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này để xác định người nhận tiền bảo hiểm phải được xem xét cùng điều khoản hợp đồng và căn cứ xác lập quyền hưởng; không thể chỉ từ việc hai người chết cùng thời điểm mà kết luận tiền bảo hiểm đương nhiên thuộc về người thừa kế của người được bảo hiểm.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư tư vấn tranh chấp về thừa kế
Thứ nhất, phải xác định rõ trong hợp đồng 3 chủ thể bao gồm bên mua bảo hiểm (người ký kết và đóng phí), người được bảo hiểm (người có tính mạng được bảo hiểm) và người thụ hưởng (người được chỉ định nhận tiền). Việc nhầm lẫn giữa các bên là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tranh chấp sai hướng.
Thứ hai, khi tạo lập hợp đồng bảo hiểm cần chỉ định rõ ràng người thụ hưởng. Các bên nên ghi tên cụ thể người thụ hưởng trong hợp đồng thay vì để trống hoặc chỉ ghi chung chung. Ngoài ghi nhận người thụ hưởng chính ra, có thể ghi nhận thêm người thụ hưởng thứ cấp khi người thụ hưởng chính không còn để giúp tránh các thủ tục thừa kế phức tạp và tranh chấp sau này.
Thứ ba, kiểm tra giá trị pháp lý của các văn bản sửa đổi, bổ sung. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng dài hạn, thông tin thụ hưởng ban đầu có thể đã bị thay đổi trong quá trình thực hiện, bên mua bảo hiểm có thể đã nộp đơn yêu cầu thay đổi người thụ hưởng. Cần kiểm tra xem văn bản nào là văn bản cuối cùng sau thay đổi để áp dụng cho phù hợp.
Thứ tư, xác định chính xác thời điểm tử vong: Trong các vụ tai nạn hoặc sự kiện bất khả kháng dẫn đến nhiều người chết, biên bản pháp y hoặc trích lục khai tử xác định thứ tự thời điểm tử vong là căn cứ quyết định tiền bảo hiểm thuộc về nhánh thừa kế nào.
Tiền bảo hiểm nhân thọ không mặc nhiên là tài sản riêng của bất kỳ ai, cũng không tự động trở thành di sản thừa kế của người được bảo hiểm khi họ qua đời. Chìa khóa pháp lý để phân định nằm ở nội dung thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, sự tồn tại hợp pháp của người thụ hưởng tại thời điểm mở thừa kế. Chỉ khi không có người thụ hưởng hoặc người thụ hưởng không thể nhận theo quy định, khoản tiền chi trả này mới chuyển hóa thành di sản để giải quyết theo trình tự thừa kế.
Tác giả: Quyên Phạm Bảo
Chúng tôi trên mạng xã hội