Theo Điều 35 Bộ luật lao động 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn, ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, ít nhất 03 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng), trừ một số trường hợp người lao động có quyền nghỉ ngay mà không cần báo trước như bị ngược đãi, cưỡng bức lao động, không được trả lương đầy đủ, đúng hạn,…
Theo Điều 39 Bộ luật Lao động 2019 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật như sau:
“Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.”
Người lao động không thuộc trường hợp được nghỉ việc không cần báo trước thì phải tuân thủ thời hạn báo trước nêu trên. Nếu không tuân thủ thì được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư chuyên về lao động tại Tp.Hồ Chí Minh
Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
“Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động
a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.”
Tiền lương là khoản tiền công ty phải trả tương ứng với công sức của người lao động đã bỏ ra, không phụ thuộc vào việc hợp đồng chấm dứt có trái pháp luật không. Do đó, dù người lao động tự ý nghỉ việc nhưng công ty vẫn phải thanh toán đủ tiền lương cho những ngày người lao động đã thực tế làm việc theo đúng thời hạn được quy định trên và đúng với nguyên tắc trả lương được quy định tại Điều 94 Bộ luật Lao động 2019.
Theo Điều 40 Bộ luật Lao động 2019 quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:
“Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Đây là khoản bồi thường riêng theo quy định pháp luật, phát sinh do lỗi vi phạm nghĩa vụ báo trước, hành vi này hoàn toàn khác với khoản tiền lương công ty phải trả cho người lao động cho những ngày làm việc thực tế. Đặc biệt, công ty không được lấy lý do người lao động tự ý nghỉ việc nên phải bồi thường cho công ty để mặc nhiên giữ luôn phần lương chưa thanh toán, việc bồi thường phải theo thỏa thuận của hai bên hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Khi công ty không trả lương hoặc không trả lương theo đúng thời hạn pháp luật quy định, người lao động có thể trao đổi trực tiếp với công ty để yêu cầu thanh toán, nếu không giải quyết được, có thể yêu cầu hòa giải viên lao động can thiệp hoặc khởi kiện tại Tòa án.
Về chế tài xử lý: Theo Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về tiền lương như sau:
“Điều 23. Vi phạm quy định về tiền lương
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
3. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:
a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.”
Như vậy, công ty có một trong các hành vi trên sẽ bị xử lý vi phạm tùy theo số lượng người lao động.
Lưu ý mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức sẽ bằng 02 lần mức phạt cá nhân (Khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP). Ngoài mức phạt tiền thì người sử dụng lao động còn phải trả đủ tiền lương cộng với tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư về lao động giỏi
Thông tin trong bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp và cập nhật kiến thức pháp luật chung cho độc giả. Các nội dung này không phải ý kiến tư vấn pháp lý chuyên sâu và không được áp dụng cho bất kỳ trường hợp hay vụ việc cụ thể nào. Quy định pháp luật có thể thay đổi và việc áp dụng luật luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Độc giả vui lòng liên hệ với luật sư hoặc chuyên gia pháp lý tại Văn phòng luật sư Tô Đình Huy để được tư vấn cụ thể cho tình huống của mình trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Tiền lương của người lao động tự ý nghỉ việc được xác định như thế nào? nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. các thông tin trong chuyên đề Tiền lương của người lao động tự ý nghỉ việc được xác định như thế nào? chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Chúng tôi trên mạng xã hội