Tranh chấp hợp đồng thuê máy móc xây dựng và xử lý nợ

Thứ năm - 15/10/2026 00:38
Việc chậm thanh toán tiền thuê thiết bị thi công không chỉ làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ mà còn đặt ra vấn đề về khoản phạt chậm thanh toán theo thỏa thuận. Bản án dưới đây làm rõ trách nhiệm thanh toán tiền thuê cẩu tháp còn nợ và những vấn đề pháp lý cần xem xét đối với mức lãi phạt 0,1%/ngày mà bên cho thuê yêu cầu.
Tranh chấp hợp đồng thuê máy móc xây dựng và xử lý nợ
Tranh chấp hợp đồng thuê máy móc xây dựng và xử lý nợ
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 231/2026/KDTM-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” giữa Nguyên đơn là Công ty Cổ phần K và Bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn E. Hai bên ký kết Hợp đồng thuê cẩu tháp số 021/25/PLT-E ngày 02/01/2025 để phục vụ thi công công trình xây dựng. Sau khi kết thúc thời hạn thuê và đối chiếu công nợ, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc thuê thiết bị là 660.533.168 đồng. Dù đã lập văn bản xác nhận nợ và đề xuất kế hoạch trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện đúng cam kết. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán toàn bộ nợ gốc cùng tiền lãi phạt chậm thanh toán. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác các đề xuất trả dần và miễn giảm của bị đơn.

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ngày 02/01/2025, Công ty Cổ phần K và Công ty TNHH E ký kết Hợp đồng thuê cẩu tháp số 021/25/PLT-E. Theo thỏa thuận, nguyên đơn cho bị đơn thuê 01 cẩu tháp T7020-12T (tải trọng tối đa 12 tấn) phục vụ lắp dựng tại công trình Công ty TNHH S2 (KCN H, huyện Đ, tỉnh Long An) từ tháng 01/2025 đến tháng 09/2025. Bị đơn đặt cọc 150.000.000 đồng và số tiền này được thỏa thuận khấu trừ vào công nợ cuối kỳ.

Theo Biên bản xác nhận công nợ lập ngày 22/12/2025 giữa hai bên, tổng giá trị thanh toán tiền thuê cẩu tháp (đã gồm VAT) là 1.219.579.161 đồng. Bị đơn đã thanh toán các đợt 1, 2, 3 với số tiền 409.045.993 đồng. Sau khi khấu trừ 150.000.000 đồng tiền cọc, số nợ gốc chưa thanh toán (từ đợt 4 đến đợt 8) là 660.533.168 đồng. Ngày 28/03/2026, bị đơn gửi Công văn số 02/2026/E-PLT đề xuất lộ trình thanh toán nợ và được nguyên đơn đồng ý tạo điều kiện, nhưng sau đó bị đơn vẫn không thực hiện.

Điều 9 của Hợp đồng quy định: trường hợp bị đơn chậm thanh toán tiền thuê thì phải chịu lãi phạt 0,1%/ngày tính từ ngày thứ 31 kể từ ngày nguyên đơn xuất hóa đơn GTGT trên số tiền chậm trả. Căn cứ hóa đơn các đợt 4, 5, 6, 7, 8 đã xuất, nguyên đơn chốt lãi phạt tính đến ngày 30/04/2026 là 135.753.579 đồng và không yêu cầu tính lãi sau ngày 30/04/2026.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH E thanh toán số tiền nợ gốc 660.533.168 đồng và tiền lãi phạt chậm thanh toán 135.753.579 đồng, tổng cộng là 796.286.747 đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn xác nhận có giao kết hợp đồng và xác nhận số nợ gốc 660.533.168 đồng theo biên bản đối chiếu. Bị đơn giải trình do công trình phát sinh thua lỗ, tổng thầu chưa thanh toán 20% giá trị còn lại nên đứt gãy dòng tiền. Bị đơn đề nghị nguyên đơn miễn giảm đợt thuê thứ 5 (115.779.981 đồng), miễn hoặc giảm tiền lãi phạt chậm trả, và cam kết trả số tiền gốc còn lại (544.753.187 đồng) chia đều thành 12 kỳ (từ ngày 31/07/2026 đến ngày 30/06/2027). Nguyên đơn không đồng ý các đề xuất này của bị đơn.

Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 và Điều 472, Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần K.

Buộc Công ty TNHH E thanh toán cho Công ty Cổ phần K tổng số tiền 796.286.747 đồng (trong đó nợ gốc là 660.533.168 đồng và lãi phạt chậm trả là 135.753.579 đồng), thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 30/04/2026. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Buộc bị đơn chịu toàn bộ 35.851.470 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư tham gia giải quyết tranh chấp dân sự

3. Bình luận nội dung bản án

3.1. Giá trị của việc xác nhận công nợ và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê

Trong tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị thi công, việc xác định chính xác số tiền thuê còn phải thanh toán là cơ sở quan trọng để giải quyết yêu cầu khởi kiện. Trong vụ án này, nghĩa vụ thanh toán của Công ty TNHH E được thể hiện qua Hợp đồng thuê cẩu tháp số 021/25/PLT-E ngày 02/01/2025, Biên bản xác nhận công nợ ngày 22/12/2025 và Công văn số 02/2026/E-PLT ngày 28/03/2026. Theo đó, sau khi đối chiếu tổng giá trị tiền thuê, các khoản đã thanh toán và tiền đặt cọc, số nợ gốc còn lại là 660.533.168 đồng. Tại quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng thừa nhận khoản nợ này.

Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, những tình tiết, sự kiện đã được một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối thì bên còn lại không phải chứng minh. Vì vậy, việc bị đơn xác nhận số nợ gốc là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét yêu cầu thanh toán của nguyên đơn mà không cần tiếp tục tranh luận về số tiền nợ đã được thừa nhận. Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị của việc thừa nhận nợ với giá trị chứng minh của từng tài liệu: biên bản xác nhận công nợ là chứng cứ thể hiện số tiền các bên đã đối chiếu, còn lời thừa nhận của bị đơn trong quá trình tố tụng là căn cứ để áp dụng khoản 2 Điều 92 nêu trên.

Bị đơn cho rằng công trình bị thua lỗ, tổng thầu chưa thanh toán phần giá trị còn lại nên gặp khó khăn về dòng tiền; đồng thời đề nghị giảm 115.779.981 đồng tiền thuê đợt 5 và thanh toán phần nợ còn lại thành 12 kỳ. Tuy nhiên, các lý do này không tự làm chấm dứt hoặc giảm nghĩa vụ thanh toán đã phát sinh từ hợp đồng thuê thiết bị. Theo Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên thuê có nghĩa vụ trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận. Trong khi đó, nguyên đơn không đồng ý giảm tiền thuê hoặc chấp thuận phương án trả dần của bị đơn.

Trên cơ sở hợp đồng, biên bản xác nhận công nợ và sự thừa nhận của bị đơn, Tòa án buộc Công ty TNHH E thanh toán đủ khoản nợ gốc là có căn cứ. Việc bị đơn gặp khó khăn tài chính có thể là lý do để các bên thương lượng lại thời hạn thanh toán, nhưng không thể thay thế sự thỏa thuận của nguyên đơn hoặc tự tạo ra căn cứ pháp lý để miễn, giảm nghĩa vụ trả tiền thuê.
👉 Tham khảo thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng

3.2. Tính pháp lý của thỏa thuận lãi phạt chậm thanh toán 0,1%/ngày

Tòa án chấp nhận yêu cầu thanh toán 135.753.579 đồng tiền lãi chậm thanh toán, được nguyên đơn tính theo mức 0,1%/ngày trên số tiền chậm trả. Điều 9 của hợp đồng quy định khoản tiền này được tính từ ngày thứ 31 kể từ ngày xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Trên cơ sở các hóa đơn và tài liệu xác nhận công nợ, Tòa án nhận định mức phạt trả chậm theo thỏa thuận phù hợp với các Điều 300, 301, 306 Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ tính hợp pháp của khoản tiền này, cần phân biệt phạt vi phạm hợp đồng với lãi chậm thanh toán. Theo Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, phạt vi phạm là khoản tiền mà bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng; Điều 301 quy định giới hạn mức phạt vi phạm đối với hợp đồng thương mại, về nguyên tắc không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trong khi đó, Điều 306 điều chỉnh quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác, với mức lãi suất được xác định theo thỏa thuận hoặc theo căn cứ luật định.

Do đó, việc xác định khoản tiền 0,1%/ngày thuộc cơ chế pháp lý nào có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đánh giá yêu cầu khởi kiện. Nếu đây là lãi chậm thanh toán, cần xem xét điều khoản về lãi suất, cách tính và căn cứ áp dụng Điều 306 Luật Thương mại. Nếu đây là phạt vi phạm, cần làm rõ giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm và giới hạn phạt theo Điều 301. Chỉ dựa vào tên gọi “lãi phạt chậm thanh toán” trong hợp đồng thì chưa đủ để kết luận khoản tiền này đương nhiên thuộc một trong hai cơ chế nêu trên hoặc đồng thời áp dụng cả hai.

Trong bản án, Hội đồng xét xử viện dẫn các Điều 300, 301 và 306 Luật Thương mại năm 2005, đồng thời chấp nhận toàn bộ khoản tiền 135.753.579 đồng. Tuy nhiên, phần nhận định được thể hiện trong bản án chưa phân tích cụ thể vì sao mức 0,1%/ngày được xác định là lãi chậm thanh toán hay phạt vi phạm, cũng chưa trình bày rõ cách đối chiếu mức tiền yêu cầu với các điều kiện tương ứng của từng quy định. Vì vậy, có thể ghi nhận kết quả giải quyết của Tòa án trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng và chứng cứ về việc chậm thanh toán.

Ngoài ra, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính khoản tiền này đến ngày 30/04/2026 và không yêu cầu tính tiếp khoản lãi theo hợp đồng sau thời điểm đó. Tòa án ghi nhận phạm vi yêu cầu này và không tuyên vượt quá yêu cầu khởi kiện. Cách giải quyết này phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3.3. Phương thức thanh toán, lãi trong giai đoạn thi hành án

Bị đơn đề nghị thanh toán khoản nợ còn lại theo 12 kỳ do chưa được tổng thầu thanh toán đầy đủ giá trị công trình. Tuy nhiên, nguyên đơn không chấp thuận phương án này và vẫn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần. Trong bối cảnh các bên chưa đạt được thỏa thuận mới về lịch trả nợ, Tòa án buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền được chấp nhận ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Quyết định này dựa trên nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng và việc không có sự thống nhất giữa các bên về phương án trả dần, chứ không phải vì pháp luật luôn cấm các bên thỏa thuận trả nợ thành nhiều kỳ.

Đối với giai đoạn thi hành án, bản án tuyên rằng kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì phải chịu lãi trên số tiền còn phải thi hành theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là khoản lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong giai đoạn thi hành án, cần phân biệt với khoản lãi chậm thanh toán theo hợp đồng đã được Tòa án tính đến ngày 30/04/2026.

4. Tổng kết

Bản án số 231/2026/KDTM-ST của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh là phán quyết mẫu mực trong việc bảo vệ dòng tiền và quyền tài sản của doanh nghiệp. Khi biên bản đối chiếu công nợ đã được xác lập công khai, Tòa án sẽ bảo vệ quyền đòi nợ dứt điểm một lần của bên cho thuê. Đồng thời, các thỏa thuận chặt chẽ về lãi phạt chậm thanh toán theo ngày (0,1%/ngày) gắn liền với thời điểm phát hành hóa đơn GTGT là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp bên cho thuê thu hồi trọn vẹn cả nợ gốc lẫn chi phí vốn bị chiếm dụng. Vụ án là bài học cho các nhà thầu thi công xây dựng trong việc quản trị rủi ro dòng tiền và cảnh báo về hậu quả tài chính nặng nề từ các điều khoản phạt vi phạm khi để xảy ra tình trạng nợ đọng kéo dài.

 

Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề “Tranh chấp hợp đồng thuê máy móc xây dựng và xử lý nợ” nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề “Tranh chấp hợp đồng thuê máy móc xây dựng và xử lý nợ” chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com. 

 

Tác giả: Quyên Phạm Bảo

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây