Bản án số 263/2026/DS-PT ngày 07/9/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng giải quyết tranh chấp về việc “Tranh chấp BTTH ngoài hợp đồng” giữa hai pháp nhân.
Đây là tranh chấp BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến tai nạn lao động. Nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng giao khoán xây dựng, thực hiện thi công xây dựng một số công trình. Theo đó, nguyên đơn phân công các nhân viên của mình đến làm việc tại địa điểm thi công, bị đơn cũng cử nhân viên đến tham gia. Trong quá trình làm việc, do nhân viên của công ty bị đơn không tuân thủ quy định về an toàn lao động nên đã xảy ra tai nạn làm các nhân viên của công ty nguyên đơn tử vong, bị thương. Tại Bản án số 35/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, về trách nhiệm dân sự Tòa án tuyên nguyên đơn phải bồi thường cho người lao động của mình. Vì cho rằng trong sự việc này mình không có lỗi nhưng thiệt hại phải gánh chịu là quá lớn, nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại cho mình. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, bị đơn có kháng cáo sửa bản án sơ thẩm.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư chuyên về lao động tại Tp.Hồ Chí Minh
Ngày 10/12/2021, Công ty TNHH X (Công ty X - nguyên đơn) và Công ty TNHH X1 (Công ty X1 bị đơn) ký kết hợp đồng giao khoán xây dựng. Theo đó, Công ty X1 giao cho Công ty X thực hiện thi công xây dựng hầm chui dân sinh và dự án thành phần đầu tư xây dựng thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020.
Thực hiện theo hợp đồng đã ký kết, ngày 03/4/2022 Công ty X phân công ông Huỳnh Văn Đ, Mai Lê H1, Phùng Tấn Đ1 làm việc tại vị trí cống hộp. Công ty X1 cũng là một trong các đơn vị thực hiện dự án trên. Khoảng 8h00 cùng ngày, xe bơm bê tông do ông Nguyễn Đức Quốc C, nhân viên của Công ty X1 điều khiển đến vị trí Công ty X đang thi công để tiến hành đổ bê tông. Sau khi tiến hành đổ được 01 mét khối bê tông thì bất ngờ cần bơm bê tông sập xuống va trúng vào người các công nhân của Công ty X đang làm việc. Hậu quả ông Đ (chết), ông H1(bị thương 52%) ông Đ1(bị thương 3%).
Tại bản án hình sự đã kết luận nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động là do ông C vi phạm quy định về an toàn lao động, về trách nhiệm dân sự thì Công ty X1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông H1 số tiền 75.000.000 đồng, bồi thường cho ông Đ1 số tiền 20.000.000 đồng. Ông C có nghĩa vụ bồi thường cho ông H1 số tiền 75.000.000 đồng. Bản án hình sự không đưa Công ty X vào tham gia với tư cách người liên quan vì chỉ giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị hại là ông H1 và ông Đ1 do sức khỏe bị xâm phạm của bị cáo gây ra, trong đó Công ty X1 là người sử dụng lao động của ông C là người trực tiếp gây ra thiệt hại. Ngày 17/10/2023, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án giữa Công ty X và Công ty X1. Ngày 18/8/2025, Tòa án ra Quyết định Công nhận thỏa thuận của các đương sự giữa ông H1 và Công ty X . Theo đó, Công ty X phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông H1 số tiền là 270.000.000 đồng. Ngày 01/12/2025, Tòa án thụ lý vụ án giữa Công ty X với Công ty X1.
Công ty X cho rằng trong sự việc này, công ty không phải người có lỗi nhưng thiệt hại phải gánh chịu là quá lớn. Do đó, Công ty X khởi kiện yêu cầu buộc Công ty X1 bồi thường cho Công ty X số tiền 270.000.000 đồng là chi phí đã bồi thường cho ông H1. Bản án sơ thẩm số 62/2026/DS-ST ngày 14/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 28/5/2026, Công ty X1 kháng cáo bản án. Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 135.000.000 đồng.
👉 Tham khảo thêm: Xác định lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong vụ việc này ông H1 bị tai nạn trong lúc đang làm việc tại công trường theo sự phân công của Công ty X với tỷ lệ thương tích 52%, đây được coi là tai nạn lao động theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Do đó, với tư cách là người sử dụng lao động Công ty X có trách nhiệm thực hiện bồi thường, trợ cấp cho ông H1. Đồng thời tai nạn này do lỗi của ông C gây ra chứ không phải do lỗi của ông H1, nên căn cứ theo khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, mức bồi thường sẽ được tính như sau “Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%”. Như vậy, mức bồi thường cho ông H1 là 18,3 tháng tiền lương (42% x 0,4 + 1,5 tháng tiền lương), tương ứng với trong bản án xác định là 282.744.321 đồng.
Ngoài ra, Công ty X còn phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định tại Mục 3 Chương III Luật an toàn, vệ sinh lao động. Do Công ty X không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động nên phải chi trả các khoản tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động mà nếu có tham gia bảo hiểm xã hội thì Cơ quan bảo hiểm xã hội phải chi trả cho người lao động.
Căn cứ theo Điều 597 BLDS 2015 thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Theo tình tiết vụ việc ông C là nhân viên của Công ty X1 gây ra tai nạn trong khi thực hiện công việc được giao thì Công ty X1 có trách nhiệm phải bồi thường cho ông H1 thay ông C. Sau đó công ty có quyền yêu cầu ông C hoàn trả một khoản tiền phù hợp.
Bản án phúc thẩm đã giải quyết minh bạch, công bằng, đúng pháp luật. Tòa án đã xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người lao động bị tai nạn lao động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời cách tính mức bồi thường đúng theo quy định. Bên cạnh đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục sai sót của Tòa cấp sơ thẩm trong việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông H1. Theo đó giữa ông H1 và Công ty X đã có thỏa thuận bồi thường số tiền 270.000.000 đồng. Tuy nhiên, việc thỏa thuận bồi thường giữa ông H1 và Công ty X không có tài liệu nào chứng minh nhưng vẫn thỏa thuận và không đưa Công ty X1 vào để hỏi ý kiến về vấn đề bồi thường nên cũng có một phần lỗi của Công ty X. Ông C là người trực tiếp gây ra thiệt hại, là người lao động của Công ty X1 nên Công ty X1 phải bồi thường lại cho Công ty X là 135.000.000 đồng.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư giải quyết tranh chấp uy tín
Vụ án cho thấy sự phức tạp trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh từ tai nạn lao động, đặc biệt trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động thi công. Mặc dù Công ty X không trực tiếp gây ra tai nạn, công ty vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người lao động theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc yêu cầu doanh nghiệp có hành vi gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền đã bồi thường cần được xem xét trên cơ sở căn cứ phát sinh trách nhiệm và mức độ lỗi của các bên. Qua đó, vụ án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định chính xác trách nhiệm bồi thường giữa các chủ thể, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường tuân thủ quy định về an toàn lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm đối với người lao động.
Chúng tôi trên mạng xã hội