Tranh chấp về lối đi và bồi thường cây trồng trên đất bị bác bỏ

Thứ hai - 12/10/2026 00:33
Khởi kiện đòi lại đất khai hoang và lối đi thường gặp rủi ro lớn nếu người khởi kiện thiếu hồ sơ địa chính hợp pháp. Phân tích từ Bản án số 23/2026/DS-PT của TAND tỉnh Điện Biên sẽ làm rõ lý do Tòa án bác yêu cầu đòi đất và bồi thường cây trồng khi thiếu nghĩa vụ chứng minh.
tranh chấp về lối đi và bồi thường cây trồng trên đất
tranh chấp về lối đi và bồi thường cây trồng trên đất
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã xét xử phúc thẩm Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 28/05/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản trên đất giữa Nguyên đơn là Ông Nguyễn Như H (sinh năm 1968) và bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1973 và Bị đơn là Ông Quàng Văn H3. Bị đơn đã chết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là Bà Trần Thị L (vợ ông H3), anh Quàng Văn C, chị Quàng Thị H4 và anh Quàng Trung H5.

Mô tả sơ lược về vụ việc: Nguyên đơn cho rằng gia đình có quyền sử dụng diện tích đất khai hoang và nhận chuyển nhượng từ trước năm 1993, sau khi bán phần đất ao vào năm 2009 thì vẫn còn quản lý phần đất vườn và 02 lối đi. Đến năm 2018, nguyên đơn phát hiện gia đình ông H3 lấn chiếm diện tích đất này để xây dựng các công trình kiên cố và chặt phá cây trồng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc gia đình bị đơn trả lại 236,8 m² đất cùng tiền bồi thường thiệt hại tài sản cây trồng trị giá 105.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

👉  Tham khảo thêm: Luật sư giỏi về đất đai

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ông Nguyễn Như H và bà Nguyễn Thị H1 trình bày nguồn gốc đất do bố mẹ là ông Nguyễn Trường S khai hoang và nhận chuyển nhượng thêm của ông T vào năm 1992 rồi tặng cho vợ chồng ông năm 1993. Sau khi nhận đất, ông H thuê máy xúc nắn dòng suối bản Lập để nhập thửa làm ao nuôi cá. Năm 2009, ông H chuyển nhượng thửa đất ao cho bà Lường Thị L1, cho rằng vẫn giữ lại phần đất đồi bên kia suối và sử dụng lối đi qua suối. Năm 2018, ông H cho rằng gia đình ông Quàng Văn H3 đã lấn chiếm đất vườn và lối đi, đồng thời chặt phá cây cối (xoài, nhãn, mít, tre, dứa) nên khởi kiện đòi lại 236,8 m² đất (gồm 206,8 m² đất vườn và 30 m² đất lối đi) cùng 105.000.000 đồng bồi thường tài sản.

Phía bị đơn và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng khẳng định thửa đất nhận chuyển nhượng từ ông Đặng Ngọc M vào năm 2000, được UBND huyện cấp Quyết định giao đất số 97/QĐ-UB và 98/QĐ-UB ngày 06/05/2004 và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014. Từ năm 2002 đến năm 2014, gia đình bị đơn đã tôn tạo, xây kè đá dọc bờ suối và xây dựng hàng loạt công trình kiên cố (nhà ở, nhà nghỉ 2 tầng, nhà để xe) để kinh doanh mà không có tranh chấp.

Kết quả xác minh và lời khai của các nhân chứng sinh sống lâu năm tại địa phương (bà Lường Thị L1, bà Lò Thị M, bà Trần Thị N - nguyên Bí thư khối phố) đều xác định sau khi bán đất ao năm 2009 cho bà L1, ông H không còn quản lý, sử dụng bất kỳ diện tích đất nào tại khu vực này. Lối đi vào khu đất cũ của ông H trước đây đi qua đất của bà Món chứ không đi qua đất của ông H3, còn lối đi men theo bờ suối chỉ là lối đi tự phát trong lòng suối cạn, mùa lũ bị ngập trôi. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ghi nhận trên phần đất tranh chấp 236,8 m² có các công trình kiên cố của gia đình bị đơn trị giá hơn 2,93 tỷ đồng. Hội đồng định giá xác định tổng giá trị đất và tài sản trên đất tranh chấp là 2.943.996.492 đồng.

Phán quyết của Tòa án:

  • Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 28/05/2026 của TAND Khu vực 3 – Điện Biên: Bác toàn bộ yêu cầu đòi lại 236,8 m² đất và bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản cây trồng 105.000.000 đồng của nguyên đơn; buộc nguyên đơn chịu án phí và chi phí xem xét thẩm định, định giá.

  • Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Điện Biên: Bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Như H và bà Nguyễn Thị H1, giữ nguyên toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

3. Bình luận nội dung bản án

3.1. Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất và giá trị pháp lý của hồ sơ địa chính

Trong các vụ án tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, người khởi kiện phải chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của mình theo quy định của Luật Đất đai và nghĩa vụ chứng minh tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

  • Phía nguyên đơn: Hoàn toàn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, giấy tờ hợp pháp nào chứng minh việc giao đất, cấp giấy chứng nhận hay đăng ký kê khai địa chính đối với diện tích 236,8 m² đất tranh chấp. Giấy tờ chuyển nhượng đất viết tay từ năm 1992 do nguyên đơn nộp bị chính người chuyển nhượng (ông Vũ Văn T) phủ nhận chữ ký. Thêm vào đó, lời khai của nguyên đơn về diện tích đất bị lấn chiếm liên tục thay đổi thiếu nhất quán (từ 535,2 m² xuống 7 m², rồi 84,6 m², 172,1 m² và cuối cùng là 236,8 m²), cho thấy ngay cả nguyên đơn cũng không nắm rõ ranh giới, mốc giới thực tế thửa đất của mình.

  • Phía bị đơn: Xuất trình đầy đủ tài liệu nguồn gốc từ Hợp đồng nhận chuyển nhượng năm 2000, Quyết định giao đất của UBND huyện từ năm 2004 kèm sơ đồ địa chính trích đo, và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014. Toàn bộ quá trình xác lập quyền sử dụng đất của bị đơn đều được cơ quan quản lý đất đai địa phương thẩm định, phê duyệt công khai và hợp pháp.

Do đó, việc Tòa án xác định nguyên đơn không có căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đất để đòi lại tài sản là có cơ sở.

3.2. Quá trình quản lý, sử dụng đất và yêu cầu đòi lối đi

Đối với yêu cầu về lối đi, cần phân biệt giữa tranh chấp quyền sử dụng một phần diện tích đất làm lối đi với quyền về lối đi qua bất động sản liền kề theo Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong vụ án này, nguyên đơn không chỉ ra được căn cứ xác lập quyền sử dụng đối với 30 m² đất lối đi, trong khi kết quả xác minh và hồ sơ địa chính cũng không thể hiện phần diện tích này là đường đi hợp pháp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Các nhân chứng sinh sống lâu năm (bà L1, bà M, bà N) khai đồng nhất khẳng định sau khi ông H chuyển nhượng đất ao năm 2009 cho bà L1, ông H đã chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng đất tại khu vực này.

Đối với yêu cầu đòi 30 m² đất lối đi: Toàn bộ sơ đồ địa chính qua các thời kỳ không ghi nhận có con đường đi công cộng hay lối đi riêng nào men theo suối vào đất. Lối đi mà ông H nại ra thực chất chỉ là bãi bồi lòng suối cạn tự phát, mùa mưa lũ thường xuyên bị cuốn trôi. Mặt khác, lối đi thực tế vào khu đất cũ đã bán cho bà L1 là đi qua đất của gia đình bà Món, không hề liên quan đến thửa đất của bị đơn. Do đó, yêu cầu đòi đất lối đi là thiếu căn cứ thực tế lẫn cơ sở pháp lý.

3.3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản trên đất

Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối quan hệ nhân quả. Tuy nhiên khi tiến hành thẩm định tại chỗ, Tòa án không ghi nhận bất kỳ dấu vết nào của việc chặt phá tài sản cây cối (xoài, nhãn, mít, dứa) như nguyên đơn mô tả. Trên đất tranh chấp là hệ thống công trình kiên cố (nhà nghỉ 2 tầng, kè bê tông đá hộc, nhà cấp 4) do bị đơn đầu tư xây dựng công khai từ nhiều năm trước (năm 2002, 2008, 2014) với giá trị hơn 2,93 tỷ đồng. Nguyên đơn khai biết bị đơn xây dựng từ năm 2014 nhưng suốt nhiều năm không có bất kỳ đơn từ khiếu nại, ngăn chặn nào gửi đến chính quyền. Nguyên đơn không chứng minh được mình là người có quyền sử dụng đất hợp pháp và cũng không có chứng cứ về việc bị đơn hủy hoại tài sản của mình nên việc Tòa án bác toàn bộ yêu cầu bồi thường 105.000.000 đồng là hoàn toàn đúng pháp luật.

👉  Tham khảo thêm:  Luật sư giỏi về giải quyết tranh chấp đất đai

4. Tổng kết

Qua Bản án số 23/2026/DS-PT, có thể thấy trong tranh chấp quyền sử dụng đất, việc xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng và căn cứ pháp lý xác lập quyền đối với phần đất tranh chấp có ý nghĩa quyết định. Khi người khởi kiện không cung cấp được tài liệu đủ sức chứng minh quyền sử dụng hợp pháp, trong khi phía còn lại có hồ sơ giao đất, giấy chứng nhận và quá trình sử dụng đất ổn định, công khai thì yêu cầu đòi lại đất khó có cơ sở được chấp nhận. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, người yêu cầu cũng phải chứng minh được hành vi xâm phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Vụ án qua đó cho thấy vai trò quan trọng của chứng cứ về nguồn gốc đất, hồ sơ địa chính và quá trình sử dụng đất thực tế trong việc giải quyết tranh chấp, đồng thời nhấn mạnh rằng việc sử dụng một lối đi trên thực tế không mặc nhiên làm phát sinh quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất đó.

👉  Tham khảo thêm:  Hướng dẫn thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây