Tranh chấp chia tài sản ly hôn khi đất đứng tên hộ gia đình

Thứ sáu - 09/10/2026 08:02
Chung sống hơn 30 năm và chăm sóc đất đai, người vợ có nguy cơ ra đi tay trắng khi ly hôn chỉ vì đất là di sản của gia đình chồng. Vụ việc thực tế sau đây sẽ cho thấy cách Tòa án bảo vệ quyền lợi chính đáng thông qua khoản tiền công sức đóng góp.
Tranh chấp tài sản ly hôn khi đất đứng tên hộ gia đình
Tranh chấp tài sản ly hôn khi đất đứng tên hộ gia đình
Mục lục

1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

Bản án số 09/2025/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, nợ chung” do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo ngoài ra còn có Ngân hàng N – Chi nhánh huyện B và nhiều cá nhân, cơ quan là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người kháng cáo là ông Trần Trung T1, chỉ kháng cáo đối với phần bản án sơ thẩm buộc ông phải trích trả cho bà P số tiền 78.245.030 đồng tiền công sức.

Về quan hệ hôn nhân, bà P và ông T1 tổ chức đám cưới, chung sống với nhau từ khoảng năm 1986 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai bên đã ly thân trong thời gian dài. Bà P yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, trong khi ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng. Về tài sản, tranh chấp chủ yếu tập trung vào thửa đất số 816, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.185m², đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Trung T1. Bà P cho rằng mình có quyền đối với một phần diện tích đất này và yêu cầu được chia, trong khi ông T1 cho rằng đây là đất có nguồn gốc từ cha mẹ ông để lại, không phải tài sản chung của vợ chồng.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn

2. Tóm tắt nội dung bản án 

Bà P và ông T1 tổ chức đám cưới, chung sống với nhau từ năm 1986 mà không đăng ký kết hôn, có một người con chung là chị Trần Thị T2 sinh năm 1990. Ông T1 trước đó đã có hai người con riêng với người vợ trước đã mất. Từ năm 1995, ông T1 vào Thành phố. Hồ Chí Minh để làm ăn, đến năm 2017 ông mới về quê sống. Năm 2003, bà P là người đứng ra kê khai và nộp đơn đăng ký quyền sử dụng đất thửa 816 và được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Trung T1, trong đó chữ ký của ông T1 trên đơn do chính bà ký. Ngày 14/5/2004, thửa đất 816 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận cho hộ ông T1. Đến năm 2017, hai bên ly thân, bà P về ở với con gái.

Tại Tòa sơ thẩm, bà P yêu cầu ly hôn và yêu cầu chia 1/5 diện tích đất vườn thuộc thửa 816 với lý do đây là đất được cân đối theo Nghị định 64/CP cho hộ gia đình có năm nhân khẩu. Bà cũng yêu cầu chia tài sản chung là các vật kiến trúc, cây trồng trên đất, và yêu cầu hỗ trợ công sức trong trường hợp đất không phải tài sản chung của hộ. Bà rút các yêu cầu về nhiều thửa đất khác, về nhà cấp 4 và các công trình phụ, cũng như về khoản nợ chung với Ngân hàng vì nợ đã trả xong. Ông T1 ban đầu không đồng ý ly hôn, sau đó đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng; ông cho rằng thửa 816 là đất của ông bà để lại, đã giao cho con trai quản lý để thờ cúng nên không phải tài sản chung, đồng thời đồng ý trả bà P 30.000.000 đồng tiền công sức.

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận yêu cầu ly hôn, đình chỉ các phần yêu cầu đã rút, không chấp nhận yêu cầu chia 157,06m² đất vườn của bà P, ghi nhận việc ông T1 nhận các vật kiến trúc, cây trồng và trả bà P 15.000.000 đồng, buộc ông T1 trích trả công sức cho bà P 78.245.030 đồng, đồng thời hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 816. Sau đó, ông T1 kháng cáo một phần, chỉ về khoản tiền công sức này, với lý do ông đã già yếu, trên 70 tuổi, không có khả năng thanh toán; tại phiên phúc thẩm ông bổ sung rằng toàn bộ đất đai là của gia đình ông và bà P không có công sức gì.

Tại phiên phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng bà P sống và tạo lập gia đình trên thửa đất hơn 30 năm nhưng không được nhận tài sản nào khi ly hôn, nên mức 10% là phù hợp và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm; ông T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn

3. Bình luận nội dung bản án

3.1. Về việc công nhận quan hệ hôn nhân và giải quyết yêu cầu ly hôn

Việc Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của hai bên là hợp lý. Hai bên tổ chức đám cưới và chung sống từ trước ngày 03/01/1987, nên thuộc trường hợp được công nhận là vợ chồng theo điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 và điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Trên cơ sở đó, việc giải quyết ly hôn theo Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là đúng, vì hai bên đã ly thân từ năm 2017, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Cách giải quyết này cũng bảo vệ bà P, bởi nếu không công nhận quan hệ vợ chồng như ông T1 đề nghị thì bà sẽ mất các quyền lợi phát sinh khi giải quyết hậu quả ly hôn.

3.2. Về việc xác định thửa đất 816 không phải tài sản chung của vợ chồng và không phải đất cân đối của hộ theo Nghị định 64/CP

Việc xác định này có căn cứ. Thửa đất có nguồn gốc từ ông bà lưu hạ cho cụ T10, cụ T11, và thông tin do Ủy ban nhân dân xã, huyện cung cấp cho thấy đây là đất ở và đất vườn kê khai được cấp giấy, không phải đất cân đối theo Nghị định 64/CP. Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng. Vì vậy, quyền sử dụng đất này không thể trở thành tài sản chung chỉ vì giấy chứng nhận được cấp trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, hai cụ mất không để lại di chúc, di sản chưa chia, nên thửa đất thuộc khối di sản của các đồng thừa kế theo Điều 612 và Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó việc bác yêu cầu chia 157,06m² đất vườn của bà P là đúng, và bà cũng không kháng cáo phần này.

3.3. Về việc xem xét công sức của bà P

Việc xem xét công sức của bà P có cơ sở thực tế. Bà sống trên thửa đất 31 năm, chăm sóc gia đình, giữ gìn, bảo quản đất trong khi ông T1 đi làm ăn xa nhiều năm; sau ly hôn bà không có nơi ở riêng và phải sống nhờ con gái. Chính ông T1 cũng thừa nhận công sức này khi đồng ý trả 30.000.000 đồng. Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng yêu cầu khi chia tài sản phải xét đến công sức đóng góp của mỗi bên và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, người già; lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập. Tinh thần này phù hợp với việc Tòa án phúc thẩm bác kháng cáo, và Viện kiểm sát cũng có quan điểm tương tự.

3.4. Chưa nhất quán về chủ thể phải thanh toán khoản công sức

Thửa 816 là di sản chưa chia của cụ T10, cụ T11, nên về nguyên tắc người hưởng lợi từ công sức bảo quản, tôn tạo là các đồng thừa kế. Chính bà P đã yêu cầu buộc các đồng thừa kế thanh toán, còn ông T1 chỉ đồng ý trả với tư cách người đại diện. Tuy nhiên, Tòa án lại buộc cá nhân ông T1 trích trả, đồng thời dành quyền cho các đồng thừa kế sau này thanh toán lại cho ông. Cách xử lý này đẩy gánh nặng tạm thời sang một người cao tuổi, sức khỏe yếu mà không đánh giá khả năng thi hành, đồng thời tạo nguy cơ phát sinh tranh chấp thừa kế tiếp theo giữa các đồng thừa kế.

4. Tổng kết

Nhìn chung, Bản án số 09/2025/HNGĐ-PT đã giải quyết tương đối toàn diện các vấn đề phát sinh trong quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị P và ông Trần Trung T1. Tòa án có căn cứ khi chấp nhận cho hai bên ly hôn, không công nhận thửa đất 816 là tài sản chung của vợ chồng và không chấp nhận yêu cầu chia 157,06m² đất cho bà P. Việc ghi nhận sự thỏa thuận về các tài sản gắn liền với đất cũng phù hợp với quyền tự định đoạt của các bên.

Điểm đáng chú ý nhất của bản án là mặc dù không xác định bà P có quyền đối với quyền sử dụng thửa đất 816, Tòa vẫn xem xét công sức quản lý, bảo quản và đóng góp của bà trong hơn 30 năm để buộc ông T1 thanh toán 78.245.030 đồng. Cách giải quyết này bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo vệ quyền của những người có quyền đối với di sản và việc ghi nhận đóng góp thực tế của người đã trực tiếp quản lý, duy trì tài sản trong thời gian dài.

👉 Tham khảo thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai tại TP. HCM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây