Tranh chấp đòi tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá

Thứ tư - 14/10/2026 03:17

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm, việc xác định căn cứ từ chối bồi thường và trách nhiệm thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Vụ án dưới đây là một ví dụ điển hình, làm rõ việc áp dụng điều khoản loại trừ bảo hiểm và xác định lãi chậm trả khi doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ chi trả.

Tranh chấp đòi tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá
Tranh chấp đòi tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá
Mục lục

 1. Khái quát chung về vụ việc tranh chấp

 Bản án số 33/2020/DS-PT ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân tỉnh Quảng Nam giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa nguyên đơn ông Nguyễn Đức N và bị đơn Tổng Công ty Bảo hiểm B.
Nguyên đơn là chủ sở hữu của một tàu cá, đã ký kết hợp đồng bảo hiểm với bị đơn và tàu cá được cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác tài sản. Tàu của  nguyên đơn làm nghề lưới vây đảo, trong lúc làm việc thì bất ngờ bị phát cháy dưới gầm máy, bị chìm ngoài biển. Sau khi vào bờ, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục để yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm nhưng bị đơn không đồng ý chi trả. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán tiền bảo hiểm và tiền lãi chậm thanh toán. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, các bên đương sự đều có kháng cáo đối với bản án. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nâng mức tiền lãi chậm trả, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

2. Tóm tắt nội dung bản án

Ngày 27/9/2017, tàu cá do ông N làm chủ sở hữu đã ký kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty B (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) với số tiền là 4.037.800.000 đồng, thời hạn từ ngày 27/9/2017 đến ngày 26/9/2018. Tàu cá của ông N đã được cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản. Ngày 03/9/2018 tàu cá xuất bến, trên tàu có 11 thuyền viên do ông N làm thuyền trưởng, tàu làm nghề lưới vây đảo. Đến ngày 07/9/2018, tàu đang neo đậu để gom cá thì bất ngờ phát cháy dưới hầm máy. Tất cả thuyền viên cố gắng dập lửa nhưng không dập được dẫn đến tàu cháy và chìm ngoài biển. Toàn bộ thuyền viên được tàu của ông T cứu vớt đưa vào bờ.

Sau khi vào bờ, ông N đã thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý để khai báo và cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu cho Công ty B yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đã ký kết. Ông N đã nhiều lần yêu cầu nhưng Công ty B không chi trả, khi ông đến công ty trực tiếp yêu cầu thì nhận được văn bản của Công ty B với nội dung không thực hiện chi trả tiền bảo hiểm với lý do tàu cá của ông N đã vi phạm, không có bằng máy trưởng theo quy định tại mục e Điều 15 Chương II Quy tắc bảo hiểm thân tàu cá tham gia Nghị định 67/2014/NĐ-CP về bồi thường bảo hiểm.

Ông N cho rằng việc từ chối không chi trả bảo hiểm của Công ty B là không phù hợp với quy định pháp luật bảo hiểm, không đúng thỏa thuận theo hợp đồng bảo hiểm đã ký và Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản. Bởi vì, theo Giấy chứng nhận bảo hiểm thì Quy tắc bảo hiểm áp dụng đối với tàu cá được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 và theo Công văn này thì trường hợp tàu cá do ông N làm chủ và làm thuyền trưởng không thuộc một trong các điểm loại trừ bảo hiểm. Do đó ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty B chi trả tiền bảo hiểm cho tàu cá và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/11/2018 cho đến khi xét xử.

Tại Bản án sơ thẩm số 156/2019/DS-ST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả cho ông N số tiền 4.263.153.655 đồng, trong đó có 225.353.655 đồng là lãi suất chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả tiền lãi chậm trả cho ông N từ ngày 14/11/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm. Sau khi xem xét, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
👉 Tham khảo thêm: Luật sư hoà giải, giải quyết tranh chấp hợp đồng

3. Bình luận nội dung vụ việc tranh chấp

3.1. Điều khoản loại trừ bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm

Công ty B đã viện dẫn điều khoản loại trừ để từ chối chi trả bảo hiểm cho ông N, cụ thể tại điểm e khoản 1 Điều 15 của “Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ” có quy định về loại trừ bảo hiểm khi tàu đang hoạt động có cả thuyền trưởng và máy trưởng nhưng thuyền trưởng hoặc máy trưởng không có bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định pháp luật hoặc chỉ có thuyền trưởng nhưng thuyền trưởng không có bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định pháp luật. Tàu của ông N tại thời điểm ra khơi và xảy ra sự cố chỉ có ông N là thuyền trưởng và có Chứng chỉ tàu cá hạng tư nên trường hợp của ông không rơi vào điều khoản loại trừ bảo hiểm.

Ngoài ra theo Luật Kinh doanh bảo hiểm có quy định về nghĩa vụ giải thích của bên bán cho bên mua khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhưng theo chứng cứ được cung cấp thì ông N không được giải thích, hướng dẫn gì về quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm. Đồng thời, khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 cũng có quy định điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định trong hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản không có nội dung nào về điều khoản loại trừ. Như vậy, việc Công ty B từ chối thực hiện nghĩa vụ là không có cơ sở.

3.2. Thời hạn bồi thường, trả tiền bảo hiểm

Do trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản không có thỏa thuận về thời hạn bồi thường nên căn cứ theo Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì thời hạn trả tiền bảo hiểm là trong 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Theo tình tiết vụ việc thì ngày Công ty B nhận được hồ sơ hợp lệ là ngày 29/10/2018, do đó công ty phải thanh toán cho ông N cho đến ngày 14/11/2018. Sau ngày 14/11/2018 thì Công ty B phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho ông N theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định ngày 09/5/2019 là thời điểm quyền và lợi ích của ông N bị xâm phạm để xác định đó là ngày Công ty B chậm trả tiền bảo hiểm là chưa phù hợp.

3.3. Lãi suất phát sinh do chậm trả

Theo khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 thì lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Tuy nhiên trong trường hợp này các bên không có thỏa thuận cụ thể về mức lãi suất nên Tòa án sẽ xác định, theo đó lãi suất được xác định sẽ bằng 50% mức lãi suất giới hạn trên, tức 10%/năm, tính từ ngày 14/11/2018 đến ngày 30/11/2019 (12 tháng 16 ngày).

👉 Tham khảo thêm: Chi phí thuê luật sư tư vấn pháp lý

4. Tổng kết

Qua phân tích vụ việc, có thể thấy rằng việc áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải căn cứ vào nội dung hợp đồng, quy tắc bảo hiểm được áp dụng và các quy định pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp bảo hiểm không thể chỉ dựa vào một điều khoản loại trừ để từ chối bồi thường mà không chứng minh được sự phù hợp giữa điều khoản đó với thỏa thuận bảo hiểm và tình tiết thực tế của vụ việc.

Bên cạnh đó, vụ án còn cho thấy ý nghĩa của việc xác định chính xác thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách nhiệm do chậm thanh toán. Khi doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận đủ hồ sơ hợp lệ nhưng không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn luật định hoặc thời hạn đã thỏa thuận, việc xác định thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả cần dựa trên các quy định pháp luật tương ứng. Điều này góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây