Để xác định cổ phần, cổ phiếu có thể trở thành đối tượng của thừa kế hay không, trước hết cần hiểu rõ bản chất pháp lý của hai khái niệm này.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025): “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.” Như vậy, cổ phần là phần vốn điều lệ được chia nhỏ thành các phần bằng nhau của công ty cổ phần và thể hiện quyền sở hữu của cổ đông đối với một phần vốn của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 nêu rõ “Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;…”. Như vậy có thể hiểu, cổ phiếu là một loại chứng khoán, là tài sản nhằm xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Nói cách khác, cổ phiếu là hình thức thể hiện và ghi nhận giá trị của cổ phần mà cổ đông nắm giữ.
Như vậy, có thể hiểu rằng cổ phần là phần vốn góp trong công ty cổ phần, còn cổ phiếu là chứng khoán dùng để xác nhận quyền sở hữu đối với phần vốn đó. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xem xét cổ phần, cổ phiếu có thể được chuyển giao thông qua thừa kế hay không.
Tham khảo thêm: Luật sư hướng dẫn khai nhận di sản thừa kế
Sau khi hiểu rõ bản chất của cổ phần và cổ phiếu, nhiều người đặt ra câu hỏi liệu các loại tài sản này có thể trở thành di sản thừa kế hay không?
Điều 609 BLDS 2015 quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Như đã phân tích tại mục 1, cổ phiếu được coi là một loại tài sản, đồng thời cổ phiếu là chứng khoán dùng để xác nhận quyền sở hữu đối với phần vốn đó (hay chính là cổ phần). Do đó, cổ phần/cổ phiếu hoàn toàn có thể trở thành đối tượng được để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Bên cạnh đó, khoản 3, 4 Điều 127, Luật Doanh nghiệp 2020 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: “Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó trở thành cổ đông của công ty. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần của cổ đông đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự”.
Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần. Điều này càng khẳng định rõ hơn: cá nhân hoàn toàn có thể nhận thừa kế tài sản là cổ phần/cổ phiếu của người mất để lại trong trường hợp chủ sở hữu cổ phần/cổ phiếu đó là cổ đông và sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp.
Từ các quy định trên, có thể khẳng định rằng cổ phần/cổ phiếu hoàn toàn có thể được để lại và nhận thừa kế. Khi cổ đông qua đời, người thừa kế hợp pháp sẽ được tiếp nhận phần cổ phần tương ứng và trở thành cổ đông của công ty theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, việc nhận thừa kế cổ phần hoặc cổ phiếu có thể được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc
Đây là trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc để định đoạt tài sản của mình trước khi qua đời. Khi đó, cổ phần hoặc cổ phiếu sẽ được chuyển giao cho những cá nhân hoặc tổ chức được chỉ định cụ thể trong nội dung di chúc, với điều kiện di chúc được lập hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật
Hình thức này được áp dụng khi xảy ra một trong các trường hợp như: không có di chúc; di chúc không hợp pháp; người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế; hoặc người được chỉ định thừa kế không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. (Điều 650, BLDS 2015)
Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, di sản là cổ phần hoặc cổ phiếu sẽ được phân chia theo hàng thừa kế. Cụ thể:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể, cổ phần hoặc cổ phiếu có thể được chuyển giao cho người thừa kế theo di chúc của người để lại di sản hoặc được phân chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Tóm lại, cổ phần và cổ phiếu được pháp luật xác định là tài sản nên hoàn toàn có thể trở thành di sản thừa kế. Việc nhận thừa kế các tài sản này có thể được thực hiện theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật, đồng thời người thừa kế sẽ trở thành cổ đông và hưởng các quyền tương ứng trong công ty.
Tham khảo thêm: Dịch vụ khai nhận di sản thừa kế
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề “Có thể nhận thừa kế cổ phần/cổ phiếu không?” nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề “Có thể nhận thừa kế cổ phần/cổ phiếu không?” chỉ là quan điểm cá nhân của người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý khách nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Để giải đáp thắc mắc, hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội