Trong quá trình xác định và phân chia di sản thừa kế, việc bỏ sót người thừa kế là có thể xảy ra trên thực tế. Điều này thường xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Một số nguyên nhân phổ biến có thể kể đến như:
Người thừa kế không được những người khác thông báo về việc mở thừa kế, đặc biệt trong trường hợp họ sinh sống ở nơi khác hoặc ít liên hệ với gia đình.
Việc xác định quan hệ huyết thống hoặc quan hệ pháp lý chưa rõ ràng, dẫn đến việc người có quyền thừa kế không được ghi nhận khi phân chia di sản.
Sai sót trong quá trình khai nhận hoặc phân chia di sản, chẳng hạn như thiếu thông tin về thành viên trong gia đình hoặc hồ sơ liên quan đến người thừa kế.
…
Những nguyên nhân này có thể dẫn đến việc quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế bị ảnh hưởng, từ đó phát sinh tranh chấp hoặc yêu cầu chia lại di sản theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, khi chia di sản theo pháp luật, những người có quyền thừa kế được xác định theo từng hàng thừa kế. Cụ thể:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Từ quy định này có thể thấy, nếu một người thuộc hàng thừa kế hợp pháp nhưng bị bỏ sót trong quá trình phân chia di sản, họ có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để khởi kiện hoặc yêu cầu phân chia lại di sản, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình..
Ví dụ, con của người đã chết – dù là con trong giá thú hay con ngoài giá thú – đều có quyền hưởng phần di sản như nhau nếu quan hệ cha con được xác định hợp pháp.
Trường hợp di sản đã được các đồng thừa kế khác phân chia trước đó, pháp luật vẫn bảo đảm quyền lợi cho người bị bỏ sót. Theo quy định tại khoản 1 Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015 về việc xử lý khi xuất hiện người thừa kế mới, nếu di sản đã được chia thì không bắt buộc phải chia lại bằng hiện vật. Những người đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế bị bỏ sót một khoản tiền tương ứng với phần di sản mà họ đáng lẽ được hưởng, tính theo giá trị di sản tại thời điểm phân chia, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
Như vậy, người thừa kế bị bỏ sót vẫn có quyền yêu cầu các đồng thừa kế khác hoàn trả phần giá trị di sản tương ứng, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Tham khảo thêm: Luật sư bảo vệ người thừa kế bị bỏ sót
Sau khi được xác định là người có quyền hưởng di sản, người thừa kế bị bỏ sót không chỉ được nhận phần di sản tương ứng mà còn phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản mà mình được hưởng. Nghĩa vụ này phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế.
Bên cạnh đó, Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định việc thực hiện nghĩa vụ đối với khối di sản do người chết để lại như sau:
Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp di sản chưa được chia, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ do người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế, trong phạm vi di sản còn lại.
Trường hợp di sản đã được chia, mỗi người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản đã nhận nhưng không vượt quá giá trị tài sản được hưởng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân mà là tổ chức được hưởng di sản theo di chúc thì tổ chức đó cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại giống như người thừa kế là cá nhân.
Ngoài nghĩa vụ tài sản, trong một số trường hợp người nhận di sản còn phải thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Thu nhập từ nhận thừa kế phải nộp thuế thu nhập cá nhân có thể bao gồm:
Chứng khoán, như cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán 2019; cổ phần của cá nhân trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020.
Phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bao gồm vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, công ty hợp danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh; vốn trong doanh nghiệp tư nhân hoặc cơ sở kinh doanh của cá nhân.
Bất động sản, bao gồm quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu nhà ở (kể cả nhà ở hình thành trong tương lai); công trình xây dựng gắn liền với đất; quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước và các khoản thu nhập khác từ thừa kế là bất động sản.
Lưu ý: Theo điểm d khoản 1 Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập từ nhận thừa kế là bất động sản sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu việc thừa kế diễn ra giữa các đối tượng có quan hệ thân thích như: vợ với chồng; cha mẹ đẻ với con đẻ; cha mẹ nuôi với con nuôi; cha mẹ chồng với con dâu; cha mẹ vợ với con rể; ông bà với cháu; anh chị em ruột với nhau.
Do đó, người thừa kế bị bỏ sót sau khi được xác định quyền hưởng di sản không chỉ có quyền nhận phần tài sản hợp pháp mà còn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế, việc phân chia di sản thừa kế đôi khi có thể xảy ra tình trạng bỏ sót người thừa kế do không xác định đầy đủ những người có quyền hưởng di sản. Khi phát hiện có người thừa kế bị bỏ sót, việc giải quyết sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ.
Căn cứ Điều 662 Bộ luật Dân sự 2015 về phân chia di sản trong trường hợp xuất hiện người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế, pháp luật quy định:
Trường hợp di sản chưa được chia: Việc phân chia di sản sẽ được thực hiện lại để bảo đảm người thừa kế bị bỏ sót được nhận phần di sản mà mình có quyền hưởng theo quy định.
Trường hợp di sản đã được chia: Khi xuất hiện thêm người thừa kế, không thực hiện chia lại di sản bằng hiện vật. Thay vào đó, những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản mà người đó đáng lẽ được hưởng, tính theo giá trị di sản tại thời điểm chia thừa kế, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, nếu các bên không thể tự thỏa thuận để giải quyết, người thừa kế bị bỏ sót có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, khi phát hiện có người thừa kế bị bỏ sót, pháp luật cho phép điều chỉnh việc phân chia di sản thông qua thỏa thuận giữa các bên hoặc giải quyết tại Tòa án, nhằm bảo đảm sự công bằng và đúng quy định trong việc phân chia di sản thừa kế.
Tham khảo thêm: Dịch vụ khai nhận di sản thừa kế
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Người thừa kế bị bỏ sót có những quyền gì? nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Người thừa kế bị bỏ sót có những quyền gì? chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội