- Việc thanh lý tài sản để trả nợ chỉ được áp dụng đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp bị phá sản.
- Đối với các tài sản mà doanh nghiệp chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua các giao dịch dân sự như: thuê, mượn, giữ hộ, nhận gia công, nhận đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng..., pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tuyệt đối của bên thứ ba. Do đó, các tài sản này không bị gộp vào khối tài sản phá sản của doanh nghiệp để đem đi chia tỷ lệ cho các chủ nợ.
👉 Tham khảo thêm: Dịch vụ làm thủ tục phá sản doanh nghiệp
Căn cứ quy định tại Điều 79 Luật Phục hồi, phá sản 2025 về trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản như sau:
Điều 79. Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố phá sản, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê hoặc mượn để dùng vào hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.
2. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì người cho thuê chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại để cơ quan thi hành án dân sự nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
3. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã chuyển nhượng tài sản thuê hoặc mượn cho người khác mà không đòi lại được thì người cho thuê hoặc cho mượn có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ không có bảo đảm.
⇒ Theo quy định trên, việc nhận lại tài sản thuê, mượn, chủ sở hữu tài sản hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản của mình dựa trên các nguyên tắc sau:
• Trong trường hợp bị tuyên bố phá sản và đã có quyết định tuyên bố phá sản thì người cho thuê hoặc mượn tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.
• Trường hợp bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì người cho thuê chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại để cơ quan thi hành án dân sự nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
• Trường hợp bị tuyên bố phá sản đã chuyển nhượng tài sản thuê hoặc mượn cho người khác mà không đòi lại được thì người cho thuê hoặc cho mượn có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ không có bảo đảm.
Đồng thời, quy định trên cũng được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 64/2026/NĐ-CP như sau:
Điều 10. Thủ tục trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
1. Cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận văn bản đề nghị trả lại tài sản và các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê, cho mượn của chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê hoặc mượn theo quy định tại khoản 1 Điều 79 của Luật Phục hồi, phá sản. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và các giấy tờ quy định tại khoản này, Chấp hành viên thông báo và chuyển cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Trường hợp chủ sở hữu tài sản có văn bản đề nghị trước khi có quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì việc yêu cầu trả lại tài sản cho thuê hoặc cho mượn được đưa vào văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản quy định tại Điều 5 Nghị định này.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này hoặc kể từ ngày người cho thuê đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu và báo cáo bằng văn bản cho Chấp hành viên biết.
Căn cứ quy định tại Điều 7 Nghị định 64/2026/NĐ-CP về xác minh điều kiện thu hành quyết định tuyên bố phá sản như sau:
Điều 7. Xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản
1. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên quy định tại Điều 5 Nghị định này, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; của người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản và của người khác có liên quan.
Người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
2. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, trường hợp phát sinh chi phí thì phải thanh toán theo quy định và được xác định là chi phí phá sản.
⇒ Theo quy định trên, nghĩa vụ chủ động kê khai lên vai những người đang giữ tài sản hoặc có khoản nợ với doanh nghiệp phá sản. Nếu những cá nhân, tổ chức này cố tình che giấu tài sản, khai báo gian dối để trốn tránh việc bị thu hồi để thi hành án, họ sẽ phải đối mặt với các chế tài hành chính hoặc thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hiện hành.
Ngoài ra, trong thứ tự phân chia tài sản phá sản, "chi phí phá sản" luôn là khoản được ưu tiên thanh toán đầu tiên (trước cả nợ lương người lao động và nợ thuế). Sự bảo đảm này giúp Quản tài viên yên tâm bỏ công sức và ứng trước chi phí để điều tra, truy tìm tài sản một cách triệt để nhất mà không sợ bị thiệt thòi hay mất tiền túi.
Bài viết mang tính chất tham khảo pháp lý. Mục đích của bài viết nhằm cung cấp các kiến thức pháp lý nền tảng, giúp độc giả có cái nhìn tổng quan và dễ dàng tiếp cận hơn với các quy định của pháp luật. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định, hành động pháp lý hay xác lập giao dịch nào, kính khuyến nghị Quý khách hàng liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư, chuyên gia pháp lý của chúng tôi để được cung cấp giải pháp tư vấn chuyên sâu.
👉 Tham khảo thêm: Tư vấn thủ tục tuyên bố doanh nghiệp phá sản
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp bị phá sản nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp bị phá sản chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội