Tài sản có thể bị niêm phong bao gồm: bất động sản và động sản. Vật chứng bị niêm phong có thể là phương tiện, công cụ phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm.
- Khách quan:
Người được giao giữ tài sản kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong mà có một trong các hành vi sau:
+ Phá huỷ niêm phong: xé, bóc, làm rách giấy…niêm phong;
+ Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu (làm cho các cơ quan có trách nhiệm không thể thu hồi được) hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên (không thuộc trường hợp quy định tại Điều 143 - huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản).
+ Gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng ở đây phát sinh từ bất kỳ hành vi nào của người phạm tội (ngoại trừ các hành vi đã kể trên). Hậu quả nghiêm trọng có thể là gây khó khăn cho việc chứng minh tội phạm (khiến xét xử sai), không thể thi hành việc bồi thường vật chất cho nguyên đơn…
Lưu ý, tất cả các hành vi kể trên phải được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định kê biên tài sản, niêm phong tài sản. Trường hợp một người lo sợ tài sản của mình có thể bị kê biên nên đã tẩu tán trước thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi phá huỷ niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên (cấu thành hình thức) hoặc gây hậu quả nghiêm trọng (cấu thành vật chất). Điều luật này quy định hai loại cấu thành tội phạm.
- Chủ quan: lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
- Chủ thể: người được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong.
b. Hình phạt:
- Khung 1: phạm tội thuộc cấu thành tội phạm cơ bản, người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
- Khung 2: phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Chúng tôi trên mạng xã hội